THAI BACH DEM AY

By

Thái Bạch đêm ấy

                                                                        Truyện ngắn của Trần Như Luận

                                                                   "Cái đẹp cứu rỗi nhân gian"

                                                                       - F.M. Dostoevsky

 

          Bạch diện thư sinh và ba kị binh cùng ghìm dây cương lại. Họ quá đỗi ngạc nhiên. Họ không ngờ nơi xứ sở hẻo lánh, quê mùa, đất rộng người thưa này lại có những cảnh sắc đẹp lạ lùng đến thế.

         Lồ lộ trước mắt họ là vầng trăng tròn to, tỏa ánh sáng lung linh. Mặt nước sông Thái Thạch phẳng lặng, trong trẻo như gương, phản chiếu ánh trăng rằm. Bên bờ này sông là rừng hoa đào đỏ thắm. Ở bờ bên kia, hòn Thái Bạch rực rỡ, đa sắc, như gấm thêu hoa, mờ mờ ảo ảo trong một màn sương rất mỏng.

        Gã thư sinh và ba chàng tùy tùng xuống ngựa. Sau khi tìm chỗ buộc dây cương, họ nhẹ nhàng ưỡn ngực, khẽ hít thở không khí trong lành.

        Bạch diện thư sinh buột miệng:

        - Ồ! Sau mấy ngày đường vất vả, thật không uổng công cho ta khi được nhìn ngắm thắng cảnh tuyệt đẹp này!

        Nói xong, gã ung dung ngồi xuống nơi bãi cỏ. Ba người hầu cận còn khá trẻ cũng được phép ngồi xuống kề bên.

        Đắm say với cảnh trăng thanh gió mát, gã bạch y hứng chí ngâm:

 

Quân bất kiến

Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi

                        (...)

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh (1)

 

        Tức cảnh sinh tình, gã bảo bọn quân hầu lấy rượu ra cùng uống, rồi tự mình tu một hơi, đoạn tiếp tục ngân nga:

Khuyến quân mạc cự bôi

Xuân phong tiếu nhân lai

Ðào lý như cựu thức

Khuynh hoa hướng ngã khai

 

                  (...)

Tự cổ đế vương trạch

Thành khuyết bế hoàng ai

Quân nhược bất ẩm tửu

Tích nhân an tại tai?(2)

 

        Bất chợt, nhìn ra xa, gã trông thấy một chiếc thuyền con bơi giữa dòng sông. Ai đó đang chèo thuyền tiến lại gần một cái chòi canh dựng lên giữa dòng nước chảy...

More...

DANG DO

By

DANG DỞ

         Truyện ngắn của Trần Như Luận

                                                                       

 (Viết nhân kỉ niệm 71 năm Ngày

Hồng quân Liên xô và Đồng Minh chiến

 thắng Phát xít Đức 9/5/1945 - 9/5/2016)

 

Đối với Erna thì quốc trưởng Adolf Hitler quả là một người cương nghị, lịch thiệp và luôn hết lòng với tổ quốc. Chính vì vậy, cô gần như mất hết tự chủ khi phải cố nghe cho hết những lời công kích của Sans, gã cựu chiến binh người Đức gốc Áo, bạn trai cô.

Mấy đêm rồi, dù không trực trú gì ở khu điều trị như mọi khi nhưng cô không tài nào ngủ được. Vừa khẽ nhắm mắt cô đã nghe giọng nói của Sans vang lên trong đầu: “Này cô y tá ơi! Tôi không có ý chế giễu gì cô đâu. Nhưng cô đã bị hắn lừa! Đúng vậy, cô đã bị hắn lừa!”.

Tim Erna đập tợn. Cô đã gần như úp mặt vào tường. Vậy mà những lời lẽ sắc như gươm của gã cứ rộn lên: “Cô đừng tưởng cô là kẻ duy nhất bị tên đồ tể ấy lừa. Trong suốt hàng chục năm qua, hắn đã ra sức lừa phỉnh tất cả công dân của nền đế chế thứ ba này. Tất cả! Không chừa một ai, Erna ạ!”.

Erna nghe một bầu máu nóng sục sôi trong huyết quản. Đúng là đồ dở hơi. Cô đã cố tạo cho gã thanh niên bảnh trai ấy cơ hội thuận tiện nhất để mặc tình mây mưa. Vậy mà gã quá ngốc nghếch! ...

More...

HÀ NỘI CÓ EM TÔI

By

Thủy Hướng Dương


HÀ NỘI CÓ EM TÔI



Hà Nội ôm tôi trong vòng tay phố phường chật hẹp

Ngón tay thon tê buốt buổi đông về

Em trong trẻo

hơi ấm tràn trên má

Tôi ghé vào

phồng rộp những cơn mê..


Hà Nội bình yên

Hà Nội  bộn bề...

Em bé bỏng theo dòng đời xuôi ngược

Và ánh mắt

đam mê ngân ngấn nước

Tôi vỗ về... ru cơn khát giữa mùa đông.


Chỉ là vờ thôi... khoác áo lạnh lùng

Hà Nội và em đều nồng nhiệt cả

Không khi nào làm thiên hà băng giá

Ngay cả khi tôi trần trụi với đời.


Chợt nhận ra rằng Hà Nội có em tôi!



10.1.11

More...

THƠ LỤC BÁT THỦY HƯỚNG DƯƠNG

By

THỦY HƯỚNG DƯƠNG
 

NGỒI BUỒN ĐẾM HẠT MƯA XINH

Ngồi buồn đếm giọt mưa rơi
Bao nhiêu giọt nước bấy nhiêu giọt tình
Giọt này hình dáng xinh xinh
Hình như ánh mắt anh nhìn ngắm em


Giọt kia sao lai nằm im?
Y như ngày trứơc mình tìm trốn nhau
Yêu sao những giọt mưa mau
Dường như anh đến gửi trao ân tình


Giọt mưa trốn miết trên cành
Dường như chẳng muốn nhìn mình rời xa
Giọt này rơi bỗng vỡ oà...
Y như nó muốn mình hoà vào nhau


Giọt dài giọt ngắn giọt mau
Giọt thương giọt nhớ giọt đau trong lòng
Rơi đầy nỗi nhớ niềm mong
Mưa chan chứa nước ngập trong lòng này

More...

CÁI CHẾT VÀ MẠNG SỐNG

By

 Trích giới thiệu Tiểu thuyết Thầy Gotama và 8.000 đệ tử của Trần Như Luận (sắp xuất bản)

170) Hai thầy trò nơi bãi tha ma

- Thưa thầy con không sợ… nhưng… - Nhưng thế nào con? - Nhưng con cảm thấy chung quanh đây có mùi hôi thối con không thể chịu nổi! – Rahula vừa bịt mồm bịt miệng vừa níu áo thầy Sariputta để thưa bẩm. Một đàn quạ đen vừa bay vụt qua trên đầu chàng. Tiếng kêu của chúng nghe ảo nảo thê lương. Bầu trời vẫn còn u ám nhưng chắc không đến nổi mưa vì đám mây lam đang trôi nhanh về phía núi. Mùi hôi nồng nặc của bãi tha ma làm Rahula cảm thấy buồn nôn. Thầy Sariputta cố trấn an: - Con hãy ráng chịu đựng. Thầy trò mình sẽ lên ngồi ở phía đầu ngọn gió. Tại đỉnh đồi ta có thể quan sát toàn cảnh. Con cứ bước theo thầy. Đừng ngại gì hết! Rahula cố gắng bước theo. Không mệt cũng không sợ nhưng chàng hết sức khó chịu vì mùi hôi thối liên tục tấn công vào hai lỗ mũi không cách nào né tránh được. Bàn tay vẫn giữ chặt lấy mồm người đang di chuyển trong tấm áo cà sa lụng thà lụng thụng chàng bỗng đứng khựng lại. Nơi chỗ trũng mé bên phải chỉ cách năm bước chàng kinh hoàng trông thấy hai bộ xương trắng hếu nằm doãi ra ruồi nhặng bu ngổn ngang từng mảng. Một vài con kên kên lưa thưa đang tỉ mẩn rỉa những miếng thịt nhầy nhụa cuối cùng còn bám trên những mảnh xương trơ trụi. Rahula cố bụm miệng lại để khỏi nôn và ráng chạy theo thầy. Khi lên tới đỉnh đồi vừa dừng lại để thở chàng vừa thưa: - Thưa thầy. Thầy có thấy… hai bộ xương dọc đường đi không? Ghê quá! Ghê… không thể nào chịu nổi! Con muốn mửa nhào ra nhưng đã cố kìm lại! Tại sao người ta không đem chôn hoặc đốt xác chết đi cho sạch sẽ hở thầy? Thầy Sariputta điềm đạm nói: - Mỗi vùng dân cư và mỗi tầng lớp xã hội có một cách xử lý xác chết khác nhau con à. Ở nước Magadha này tầng lớp bình dân thường dành nhiều tiền cho nghi lễ nhưng con thấy đó cuối cùng họ ít khi đem đốt hoặc đem chôn. Họ thường hay quăng tử thi lên các bãi tha ma mênh mông bát ngát như thế này. Nguồn gốc của tập tục ấy là do hồi xa xưa lâu lắm rồi người ta có tục lệ rất tự nhiên là khiêng tử thi lên các ngọn núi cao chót vót. Họ nghĩ làm như vậy để cho các vong linh mau được siêu thoát lên trời. Còn ở xứ biển sau một loạt nghi lễ rườm ra người ta cũng thường vứt xác chết ra khơi với hy vọng linh hồn sẽ mau đến với thần Yama. Rahula chăm chú lắng nghe. Chờ thầy nói dứt lời chàng cất tiếng hỏi: - Thưa thầy. Con nhớ hồi ông nội con mất triều đình lại tổ chức đốt xác. Cách đó có tốt không thầy? - Tốt xấu thì không nói được. Nhưng đúng là theo tập quán tầng lớp brahman và tầng lớp ksatria thường hay hỏa táng chứ không vứt xác ra bãi tha ma nữa. Thế… theo con tốt là thế nào? – Thầy Sariputta nghiêng đầu khẽ hỏi. Rahula khẽ mỉm cười: - Thưa thầy. Theo con làm gì thì làm nhưng cách nào không để lại mùi hôi là cách tốt nhất! Thầy Sariputta không mấy chú ý tới câu trả lời của cậu học trò. Thầy đang nhìn quanh để kiếm chỗ ngồi cho cả hai người. Gió từ hướng nam thổi qua lồng lộng khiến tấm áo cà sa của thầy bay cả về phía Rahula. Chàng tu sĩ trẻ đưa hai tay lên gỡ nhẹ áo thầy cho khỏi vướng rồi nói: - Nãy giờ con nhìn quanh thấy đây là một nơi thích hợp để ngồi thiền. Vả lại phía trên này ít có mùi hôi con thấy dễ chịu hơn. Thầy Sariputta kéo tấm áo gọn lại thong thả ngồi xuống trên tảng đá bằng phẳng. Rồi thầy chậm rãi nói: - Thầy đưa con ra đây không phải để ngồi thiền. Thầy muốn con dành hẳn ra mười ngày ngồi nơi đây để suy niệm về hai chủ đề. - Dạ hai chủ đề gì xin thầy cứ dạy – Rahula cũng ngồi xuống theo thầy. Đôi mắt ngước lên lộ vẻ trong sáng lạ thường. - Đầu tiên là cái chết. Trong suốt ngày hôm nay ngay từ bây giờ con chỉ nghĩ về cái chết thôi. Con có thể làm như thế được không? – Thầy Sariputta đặt một bàn tay âm ấm lên bờ vai gầy của cậu học trò. - Dạ được. Con chỉ nghĩ về cái chết thôi. Chắc chắn con sẽ làm như ý thầy. Còn… - Còn gì nữa? – Thầy Sariputta lại nghiêng đầu hỏi. - Còn chủ đề thứ hai. - Con vừa phạm sai lầm. Thầy đã bảo con chỉ nghĩ về cái chết thôi. - Dạ con xin lỗi thầy. Còn… - Lại còn gì nữa? – Thầy Sariputta tỏ vẻ lo lắng cho cậu học trò. - Còn thầy? - Con tập trung suy nghĩ về chủ đề ấy. Thầy có thể có mặt ở đây cũng có thể không. Con cứ coi như không có thầy bên cạnh. Được chứ? Nói rồi thầy Sariputta vội rảo bước về phía chân đồi. Đám mây xám trên bầu trời đã trôi đi đâu mất hút. Ánh mặt trời lên chói chang. Rahula nhìn theo thầy cho đến khi bóng thầy khuất dần sau hàng cây dala xanh mướt.

* * *

171) Thầy trò Rahula đàm đạo về sự chết

Cái chết tại sao lại phải nghĩ về cái chết nhỉ? Ông thầy già già đen đen nhăn nhăn này đúng là rắc rối. Rahula tự ngẫm ngợi rồi lại tự cười với chính mình. Biết quán tưởng về cái chết như thế nào đây? Ta nên nghĩ tới nó theo những phương cách nào? Phải rồi đầu tiên ta sẽ tự nêu ra vài câu hỏi. Nêu ra được là sẽ dần dần trả lời được. Cái chết do đâu mà có? Có ai thoát chết được không? Chết là khổ hay là sướng là đáng mừng hay đáng lo? Chết có phải là kết thúc cuộc đời hay bắt đầu cho một đời sống khác? Rahula tự tìm tòi câu trả lời từ trong một chuỗi dài suy nghĩ miên man bắt đầu từ khi thầy Sariputta dời gót. Chàng dành ra gần suốt buổi sáng để đưa ra toàn các câu hỏi rồi lại ngẫm nghĩ. Tâm trí chàng nhảy nhót từ ý nghĩ này sang ý nghĩ khác rất mông lung chả biết cách trả lời nào là chân lý cả. Đến trưa sau khi phải dừng lại một hồi lâu vì một bầy kiến cánh tấn công dữ dội chàng thấy cồn cào nên quyết định đem thức ăn ra để vừa nhai vừa tạm dừng suy ngẫm. Nhưng chàng đã bị cuốn hút quá mạnh vào đề mục. Ăn xong nhiều câu hỏi tự dưng đã có được những câu trả lời thú vị. Ngay cả việc quan sát một con dán chết được bầy kiến đông đúc khệ nệ khiêng đi từ gốc cây này sang gốc cây khác cũng đem lại cho chàng nhiều ý tưởng rất hay. Đến chiều chàng nghiêm túc ngồi trầm tư trong tư thế kiết già. Kiến bay quanh mặc. Ruồi nhặng quấy rầy cũng mặc. Chỉ một đỗi ngắn mọi câu trả lời gần như đều hoàn chỉnh. Chàng nhủ thầm: Mình đã dành cho vấn đề này quá nhiều thời gian. Mình có thể ra về được rồi đây! Thầy Sariputta hỏi: - Theo con nguyên nhân nào dẫn đến cái chết? Gần như khỏi cần suy nghĩ gì thêm Rahula ung dung thưa: - Thưa thầy có ba nguyên nhân. Một là tai nạn. Hai là bệnh tật. Ba là già yếu. - Chưa thật đúng. Tí nữa tự con con sẽ giải thích được tại sao. Bây giờ thầy hỏi câu thứ hai: Có ai thoát được cái chết không? Rahula hơi run. Chàng đáp nho nhỏ: - Thưa thầy ngoại trừ các vị thần không ai thoát chết cả. - Câu này con trả lời vậy là không đúng hẳn. Vì chả có ai là thần linh cả. Thầy Sariputta lại hỏi: - Vậy theo con chết là sướng hay khổ? Đáng vui hay đáng buồn? Rahula thong thả trình bày: - Thưa thầy câu này dễ. Người nghèo chết khổ; người giàu chết sướng. Sáng nay thầy đã dạy rằng tầng lớp bình dân chết xong hay bị quăng ra bãi. Con tận mắt thấy nào quạ đen nào kên kên nào diều hâu nào ruồi nhặng thi nhau rúc rỉa. Chết vậy quá khổ. Trong khi đó người brahman và ksatria chết xong thường được tẩm liệm người ta quấn tới ba lớp vải trắng rất chu đáo rồi mới đem đốt thành tro. Phần tro thiêng liêng ấy hôm sau lại được đem đến thả ở đầu nguồn sông Ganga để thần Yama tiếp rước đàng hoàng. Con chứng kiến rõ ràng như ông nội con thì chết vẫn là vui con cháu tề tựu đông vô kể chả có gì đáng buồn cả. - Câu này tưởng dễ mà không dễ. Con suy nghiệm như vậy chưa chính xác. Vì người giàu có và người nghèo khó trước lúc chết đều đau khổ. Chẳng có ai cảm nhận cái chết đến mà không đau khổ cả. Sự chết giống như chỗ hiểm trở. Như đi đường xa mà chẳng bạn bè. Như đã ở bên thân mà thân không hề hay biết. Thần Yama là một nhân vật do trí tưởng tượng nặn ra. Chẳng ai tiếp rước người chết cả. Cái chết vừa đau khổ vừa cô độc. Giờ thầy hỏi câu cuối cùng: Làm thế nào để khỏi chết? Rahula chợt thấy trí tuệ mình lóe sáng như ngọn đèn vừa mới thắp lên trong đêm tối. Chàng háo hức nói: - Thưa thầy. Suốt ngày hôm nay con chưa hề nghĩ gì tới câu hỏi này. Nhưng khi thầy hỏi con có ngay câu trả lời. - Con cứ nói đi! - Dạ muốn khỏi chết chỉ có duy nhất một cách thôi! Thầy Sariputta hé một nụ cười hiếm hoi: - Cách gì? - Thưa thầy. Cách duy nhất để khỏi chết là đừng sinh ra! Đôi mắt thầy Sariputta bỗng tròn xoe kinh ngạc. Thầy nói: - Con đã học điều này từ đâu ra vậy? Con trả lời câu này thật xuất sắc. Rahula thành thật thưa: - Câu này tự con suy nghĩ và trả lời chứ không hề học ở đâu cả thưa thầy. Thầy Sariputta vừa chỉ một chỗ ngồi cho Rahula vừa nói: - Con ngồi đi. Bây giờ thầy sẽ nói thêm một vài ý để con hiểu. Đối với người đời bất cứ ai cái chết thật là kinh khủng. Nó kinh khủng vì ba lý do: người ta phải chịu đau đớn trước khi chết; người ta phải xa lìa người thân khi chết; và người ta hoàn toàn không biết chết rồi thì sẽ đi về đâu. Như vậy cùng một lúc người ấy vừa có cảm giác đau đớn về thể xác đau xót về tình cảm và hoang mang cực độ về thân phận. Con chưa hề chứng kiến cái chết của bất cứ ai nên con chưa hiểu hết nỗi đau khổ của kẻ sắp chết. Có đúng vậy không? - Dạ đúng là con chưa hiểu hết về chuyện ấy. - Con bảo rằng muốn thoát khỏi cái chết thì đừng sinh ra. Câu ấy rất đúng. Bởi vì đã sinh ra thì tất nhiên phải có ngày chết đi. Vậy bây giờ thầy hỏi lại theo con nguyên nhân của cái chết là gì? - Dạ chúng sinh chết là do chúng sinh đã được sinh ra. - Rất đúng. Nhưng người đời chỉ mong muốn sinh ra mà không bao giờ chấp nhận sự chết đi. Đó là một nghịch lý. Đó là một trong những nguyên nhân hình thành nên nỗi đau khổ lớn lao khi sắp chết. Vậy theo con để chúng sinh vơi bớt nỗi đau khổ mà họ sắp trải qua khi chia lìa sự sống họ nên có thái độ thế nào? - Dạ thưa thầy. Không nên có thái độ chống lại cái chết một cách cực đoan. - Đúng vậy. Nên có thái độ chấp nhận cái chết một cách đầy trí tuệ. Đã chấp nhận sinh ra thì buộc lòng phải chấp nhận cái chết. Thầy kể cho con nghe một câu chuyện như thế này: Một đứa trẻ dòng dõi brahman nhân lúc quá đói bèn tìm thấy một quả amla trong đống phân bò. Nó mừng rỡ nhặt lên. Bậc đại trí đi ngang qua thấy thế liền quở: “Chú mầy là con nhà brahman hẳn hoi. Đã là dòng dõi trong sạch sao lại lượm quả dơ trong đống phân thối làm gì?”. Cậu bé nghe xong hổ thẹn chẳng ăn. Cậu đỏ mặt ấp úng nói gỡ gạt: “Cháu thiệt ra chẳng có ý ăn đâu. Cháu chỉ định rửa sạch rồi vứt bỏ”. Người đại trí quá nực cười. Ông ấy nói: “Ngươi đúng là ngu quá! Nếu trước sau gì cũng vứt bỏ đi đáng lẽ ra chẳng nên nhặt lấy làm gì!”. Con có biết câu chuyện ấy muốn nói lên điều gì không? - Thưa thầy. Nhặt lên tượng trưng cho sinh. Vứt bỏ tượng trưng cho chết. Cậu bé vừa ham nhặt lên vừa buộc phải vứt bỏ. Vì có nhặt lên nên mới có sự vứt bỏ. Cậu bé tượng trưng cho kẻ phàm phu tham sống sợ chết. Người đại trí kia dứt khoát không nhặt cũng không vứt không tham sống nên khỏi sợ chết. Ông ấy chính là bậc đại giác ngộ vậy. Thầy Sariputta gật gù: - Con hiểu vậy là rất tốt. Lại có câu chuyện thế này: Có một cô gái tất cả lỗ chân lông đều thoảng mùi chiên đàn miệng thơm sạch như hoa sen xanh ánh mắt sáng long lanh như ngàn sao da mịn láng như lá đồng đỏ môi đỏ rực như hoa balasa thông minh tài trí ăn nói dịu dàng. Vì quý báu vậy nên người ta gọi cô là nữ bảo. Nữ bảo vào nhà đại gia. Đại gia mừng nghênh đón. Ăn ở với nhau chẳng được bao lâu một nữ nhân gõ cửa. Chủ hỏi: Ai? Cô kia đáp: Em là hắc ám. Chủ ngạc nhiên. Cô kia giải thích: Bởi vì em tới đâu tai họa tới đó. Chủ hỏi: Hắc ám sao đến đây làm gì? Hắc ám đáp: Em là em sinh đôi của chị Nữ bảo. Chị em đi đâu em theo đó. Tụi em sống mãi bên nhau như bóng với hình. Đại gia tuyên bố: Thôi dẹp đi! Từ nay không kết giao với hai chị em cô nữa. Nữ bảo rầu rĩ sang gặp gã nhà nghèo. Gã bảo: Mừng quá! Buồn ngủ gặp chiếu manh. Gã liền kết thân với cô chị lẫn cô em. Rahula gật gù: - Chuyện hay lắm thầy! Cô chị ví như sự sống. Cô em ví như cái chết. Sự sống đi đâu cái chết theo đấy chẳng ai cãi được. Gã nhà nghèo ví như kẻ phàm phu vì ham cô chị nên chẳng thể từ bỏ cô em. Ông đại gia ví cho người ngộ đạo ghét cô em tất nhiên chẳng ưa gì cô chị. Tu đạo giải thoát chính là từ bỏ cả cái khổ do chết chóc lẫn cái khổ do sinh ra vậy.

* * *

172) Rahula quán sát về sự ra đời của thân xác

Ngày hôm sau Rahula được thầy giao nhiệm vụ bỏ ra tiếp năm ngày để quán tưởng theo chủ đề thân xác. Đề mục của ngày đầu tiên là thân xác chúng sinh ra đời như thế nào. Đây hẳn là một vấn đề khá hóc búa đối với chàng. Bởi vì kể từ khi còn ở trong hoàng cung cho tới nay Rahula chưa hề nghe nói tới hay tiếp xúc gì với chuyện này hết trơn hết trọi. Mới sáng tinh mơ thời tiết đã không mấy thuận lợi. Bước đi vài bước chàng đã phải đối phó với cái hơi nóng gay gắt ngột ngạt từ trên trời cao chụp xuống. Mồ hôi mồ kê chảy đầm đìa. Khi tới nơi chàng liền cởi phăng tấm cà sa với tay treo ngay ngắn lên cành cây gần chỗ ngồi. Rồi với một chiếc quần gọn lõn chàng lẳng lặng ngồi xuống trên mặt đá mà chàng và thầy Sariputta ngồi hôm qua để bắt đầu trầm tư. Chung quanh vẫn đìu hiu vắng vẻ. Chẳng một bóng người. Mùi xác người từ xa xa lâu lâu lại bốc lên thoang thoảng nhưng hôm nay chàng cảm thấy không đến nỗi khó chịu như hôm qua. Chàng tự nhủ chúng sinh dù ra đời bằng cách nào cũng đâu có sạch sẽ gì. Dù là hóa sinh tức là ra đời… Thân xác con người ra đời từ sự hòa hợp giữa tinh cha và huyết mẹ. Mà tinh huyết là gì? Người ta bảo rằng đó là những thứ dơ dáy sinh ra từ nơi dơ dáy chẳng hề sạch sẽ một mảy may nào. Nếu chúng sạch sẽ thì can cớ chi ngày nào người ta cũng phải tự mình làm vệ sinh không ai làm thay được? Nếu chỗ ra đời của tinh huyết mà sạch sẽ tại sao chỉ cần một ngày không kịp rửa thì mùi hôi thối đã bắt đầu bốc lên? Một người đã không sạch thì hai người càng không sạch. Hai người đã không sạch thì đương nhiên cái mà họ tạo ra cũng chẳng sạch. Bằng một lối lập luận vững chắc không hề né tránh Rahula đi đến kết luận dứt khoát rằng quả thật con người sinh ra từ các chủng tử chẳng sạch sẽ chẳng tốt đẹp gì. Thân người sinh ra từ sự bẩn thỉu sự uế tạp. Dứt khoát là như vậy. Chàng hí hửng về thật sớm. Gặp một thầy brahman không quen chàng bỗng nở nụ cười tươi. Hỏi: Cậu tu sĩ trẻ đi đâu đó? Đáp: Cháu tư duy nửa ngày về sợ ra đời của con người bắt đầu từ cái chủng tử vô cùng bẩn thỉu. Vị tu sĩ tỏ vẻ băn khoăn: Có đúng như thế không? Cậu có nhầm không đó? Đáp: Chắc nụi là như vậy. Vị tu sĩ trầm ngâm một hồi rồi bảo: Bọn chandara và lũ sudra dơ dáy thì như thế thật. Nhưng dòng dõi brahman và ksatria thì tuyệt nhiên chẳng bao giờ dơ dáy bẩn thỉu gì đâu. Chắc cậu trẻ quá nên chưa có thực tế! Rahula nửa tin nửa ngờ. Nhưng vì bị chinh phục bởi cái dáng dấp tiên phong đạo cốt chàng đành thưa: Dạ con xin cảm ơn lời chỉ dạy của thầy. Con cảm ơn nhiều. Con cảm ơn nhiều lắm! * * * 173) Rahula quán sát về chỗ ở của thân Ngày thứ ba Rahula quán sát đề mục chỗ ở của thân. Chà! Đây mới là một vấn đề khó đối với chàng đây. Là bởi vì xưa nay chưa ai nói cho chàng biết lúc còn ở trong bụng mẹ cái thai nằm ở góc nào góc đó sạch hay dơ đẹp hay xấu. Nếu chàng kết luận đại rằng đó là một nơi tối tăm bẩn thỉu thì khi thầy Sariputta vặn lại nó bẩn thế nào chàng biết ăn nói làm sao? Nhưng cũng may một điều vì thầy bảo hãy suy nghĩ về chỗ ở của thân vậy không nhất thiết phải là cái thân lúc mới tượng hình trong bụng mẹ. Rahula sẽ dành nhiều thời gian tư duy về chỗ ở của thân lúc đã chào đời. Xem nào khi mới ra đời em bé thế nào cũng cất tiếng cười vang vì quang cảnh xung quanh sáng bừng lên như người từ trong hang chui ra vậy. Rồi em bé vươn vai hít thở khí trời bởi vì suốt chín tháng mười ngày em hoàn toàn bị nhốt trong chỗ kín ngột ngạt không thở được. Sau đó em được người ta quấn khăn quấn tã lẽ dĩ nhiên những thứ này đều sạch sẽ tối đa vì nếu không sạch chả lẽ người ta bắt em bé ở dơ làm gì? Tiếp theo em bé sẽ được bú mẹ vì bú mẹ nên em phải nằm cạnh mẹ. Rahula nhớ lại cách đây chừng mấy tháng lúc đi ngang qua một ngôi nhà hoang chàng trông thấy một con chó sắc lông vàng rơm nằm trong đám rơm đang cho bầy chó con bú mớm. Chúng nằm lúc rúc trong lòng mẹ và tranh nhau ngậm vú rất dễ thương. Phải rồi con người thì cũng như chó thôi. Bú mẹ tất nhiên phải nằm cạnh mẹ chỗ ấy thường là sạch sẽ vì mẹ là người lớn chả lẽ mẹ chọn chỗ dơ mà nằm sao? Giai đoạn tiếp theo chắc em bé tiếp tục bú cho tới khi lớn dần. Các nàng hầu sẽ giúp mẹ để chăm sóc em bé. Họ đi vào đi ra họ luẩn quẩn loanh quanh chung quanh bà chủ chỉ với một mục đích là làm vệ sinh cho em bé. Vậy chả lẽ họ lại để dơ sao? Chắc chắn là không dơ rồi. Khi em bé lớn dần lên thành cậu bé rồi cậu bé lớn dần thành gã thanh niên vấn đề vệ sinh thân thể sẽ được bà mẹ và những người lớn khác trong dòng họ chỉ bày. Chẳng lẽ người ta không bày cho cậu thanh niên cách giữ vệ sinh thân thể sao? Cho nên đáp án chắc chắn là một trăm phần trăm thanh niên đều biết giữ tấm thân cho sạch sẽ đó là chưa kể hầu hết các bé gái đều rất thích dùng nước hoa thân thể luôn có mùi thơm quyến rũ. Chỉ trừ những cậu thanh niên lam lũ suốt ngày phải đi chăn bò ngoài đồng ruộng số còn lại chắc chắn đều có thân hình sạch sẽ. Vậy nếu thầy Sariputta dõng dạc hỏi: “Rahula! Con thấy thân thể con người ta có sạch sẽ không?”. Câu trả lời của mình sẽ là: “Dạ thưa thầy. Thân thể con người lẽ đương nhiên là sạch sẽ rồi!”. Rahula yên trí là mình đã tư duy rất nghiêm túc và đến nơi đến chốn. Chàng với tay kéo tấm áo cà sa từ trên cành cây xuống định khoác vào chuẩn bị ra về. Bất giác mùi mồ hôi nồng nàn trong chiếc áo đã hai ngày không kịp giặt bay nhè nhẹ vào hai hốc mũi. Chàng khẽ giật mình. Nãy giờ mình kết luận như vậy có chắc là đúng không nhỉ? Có phải nơi ở của chúng sinh thật ra không được sạch không nhỉ? Ngay cả đồ ta mặc vào để che thân đã không sạch thì chốn nương thân của chúng sinh thật ra đâu có sạch? Ôi! Rắc rối quá! Thầy Sariputta đưa ra những đề mục rắc rối quá đi mất! * * * 174) Rahula quán sát về chất tiết của thân Rahula đi chầm chậm đằng sau một bầy bò con nào con nấy mình lấm lem bụi đất. Nhưng chàng không mấy chú tâm tới chúng bởi vì thầy Sariputta yêu cầu chàng quán sát đề mục chất tiết của thân. Lại là chuyện cái thân! Chán bỏ xừ rồi đây. Chỉ cần nghe cái đề mục cũng đã hiểu ngay chất tiết của thân dĩ nhiên là không sạch. Chẳng hiểu con bò cấu trúc cơ thể nó thế nào chứ con người thì rành rành ra đó chín cái lỗ tiết mà lỗ nào cũng tiết toàn chất bẩn. Thử nghĩ coi từ hai lỗ tai cặp lỗ mũi đôi mắt cho tới chỗ tiểu tiện đại tiện và ngay cả cái cửa miệng với vành môi xinh xinh có chỗ nào sạch sẽ gì đâu! Hai lỗ tai chỉ cần hai tuần không lấy ráy tai là nghẽn toàn cứt ráy. Cặp lỗ mũi của một người đi chưa tới nửa ngày đường đã dính đầy bụi đất. Đôi mắt dù là mắt của một tuyệt thế giai nhân nhưng nếu sáng ra không rửa mặt thì đầy cả ghèn nhử dơ bẩn. Đó là chưa nói tới những cái “lỗ cống” khác: Chỗ tiểu tiện chỗ đại tiện chao ôi dơ không làm sao kể xiết. Đúng vào lúc Rahula vừa suy nghĩ tới điều này thì chàng phát hiện có mùi xú uế tốc thẳng vào hai cửa mũi. Chàng trố mắt lên nhìn: Ngay trước mặt một con bò vàng có “bộ tam” to bự chảng đang ưỡn mông bài tiết. Mùi phân bò tươi bốc lên khiến chàng không thể nào chịu thấu. Thật là xui xẻo! Rahula quyết định quay trở lại tăng xá của mình không thể tiếp tục lải rải đi đằng sau đàn bò hôi hám này được nữa. Chàng khẳng định một điều dù là súc vật hay người những thứ bài tiết từ cơ thể chẳng bao giờ sạch sẽ gì được. Bài tập ngày hôm nay đã được giải xong dù chàng có ra tới bãi tha ma đầy ruồi nhặng và mùi hôi thối kia thì kết quả cũng chỉ vậy thôi. * * * 175) Nhà sư tặng áo cà sa cho xác chết Ngày thứ năm thầy Sariputta yêu cầu Rahula tập trung vào đề mục mọi thứ trong thân đều bẩn. Thật ra chàng chưa trải nghiệm nhiều về những thứ liên quan tới đề mục này trong thực tiễn. Họa chăng chàng nhớ lại có một dạo chàng đã ngửi thấy mùi máu tanh tưởi từ trên đầu chàng chảy ra. Té ra trong cơ thể chúng ta có được bao nhiêu máu thì có bấy nhiêu sự tanh tưởi chứ chẳng tốt đẹp gì. Cách đây mấy hôm chàng cũng tận mắt trông thấy hai xác người chết được quăng bừa nơi bãi tha ma. Những mảnh thịt dính vào xương trông mới gớm ghiếc làm sao! Thịt người đã vậy thịt súc vật chắc phải tanh hôi dơ dáy hơn nhiều. Rahula cũng sực nhớ có mấy con trâu đen thui đen thít nằm chết bên đường trong mùa Gimhana năm ngoái. Những con trâu vô chủ chẳng biết đã húc nhau thế nào mà con nào con nấy đều bị thương thủng bụng gan ruột phơi hết ra ngoài trông phát khiếp! Gan là một đống có lẽ cấu tạo từ đất và nước màu nâu sẫm mặt trong mặt ngoài đầy những cái hốc nhỏ lổ chổ vừa đủ kích thước cho lũ ruồi nhặng chui vào chui ra. Trong khi đó ruột lại là một cái ống dài ngoằng màu tím thẫm cứ phình lên xẹp xuống bèo nhèo. Khi nó phì hết ra ngoài trông nhầy nhầy nhụa nhụa chả ra quái gì cả! Chàng Rahula tạm kết luận rằng trong thân thể con người vì cũng có ruột có gan cũng có những đống thịt và máu bầy nhầy bẩn thỉu cho nên suy cho cùng chắc chắn cơ thể con người chả có gì tốt đẹp hết trơn. Chàng tu sĩ trẻ tư duy tới đây thì trời đã trưa. Ánh nắng chói chang rực rỡ trên đầu. Chàng lại nghĩ chả lẽ mình cứ ngồi đây mãi làm gì cho nực. Chàng mở gói thức ăn ra ăn vội rồi quay gót trở về tăng xá thật sớm. Thầy Sariputta gặp ngay gã đệ tử trẻ ở lối ra vào. Thầy nghiêm nghị hỏi: - Sao hai hôm nay con về sớm quá vậy? Rahula hơi áy náy nhưng cũng bình tĩnh thưa: - Dạ con tập trung trí tuệ cho đề mục thầy ra xong chẳng biết phải làm gì nữa nên phải ra về. Thưa thầy thầy có gì sai bảo con xin làm theo ý thầy. Vẻ mặt thầy Sariputta cũng chưa được tươi. Thầy nói: - Thầy chỉ muốn con dành hết thời gian cho việc quán sát vào đề mục mà thầy đã cho. Thời gian còn lại con nên ngồi thiền làm vệ sinh cá nhân hoặc đi bộ quanh tịnh xá. Chàng tu sĩ trẻ rụt rè thưa: - Thưa thầy nhân đây con xin hỏi một câu nho nhỏ thôi có được không ạ? Nhận ra vẻ ngoan ngoãn của đệ tử thầy Sariputta hơi tươi sắc mặt: - Con cứ mạnh dạn hỏi đi! - Thưa thầy. Nếu đã nhận thức được rằng thân thể chúng ta thực ra là thứ đáng ghê tởm tại sao chúng ta lại phải làm vệ sinh cá nhân và đi bộ cho nó mạnh khỏe lên để làm gì ạ? Thầy Sariputta mỉm cười: - Một mặt ta biết rằng nó dơ bẩn đáng chán đáng từ bỏ; nhưng mặt khác ta cũng nên hiểu nó là phương tiện để ta tu tập. Làm người chính là đang trải qua một cơ may quý giá nhất để tu hành và giác ngộ về mọi mặt con có hiểu ý thầy không? Chàng tu sĩ trẻ trầm ngâm một đỗi rồi thưa: - Dạ thưa thầy con hiểu rồi. Con xin đội ơn thầy đã chỉ dạy. Rồi chàng lại được giao tiếp một đề mục khác cho ngày thứ sáu cũng là ngày cuối cùng còn phải ra tận cái bãi vắng vẻ thối tha kia để trải nghiệm về chủ đề thân. Lần này thầy Sariputta cẩn thận căn dặn rằng phải nỗ lực dành hết thời gian cho việc công phu quán sát quyết đào sâu vào bản chất của sự thể chứ không được phép suy nghĩ lấy lệ để về sớm như hai hôm vừa rồi nữa. Rahula có mặt ở “cánh đồng thối” khi mặt trời chưa lên quá rặng tre. Cánh Đồng Thối là cái tên do chàng tự đặt ra để ám chỉ cái mô đất gồ hẳn lên và mênh mông bát ngát phủ đầy bóng cây nằm ngay đỉnh đồi nơi người dân thường gọi một cách đơn giản là bãi tha ma. Đi từ sườn đồi lên có thể dễ dàng bắt gặp những xác người ngổn ngang mới có cũ có. Chàng cũng phân biệt được xác mới xác cũ rất dễ căn cứ vào cái mùi bốc lên hoặc thậm chí chỉ cần dùng mắt trần quan sát sơ qua cũng biết. Bởi vì nếu …… Rahula nhớ có một dạo cha chàng đã giải thích rằng thân xác con người do bốn thành tố trong thiên nhiên hợp lại. Chính vì vậy hôm nay chàng nghĩ ra rằng khi người ta chết đi cũng chính là lúc bốn thành tố đó lần lượt được trao trả lại cho thiên nhiên. Trước hết là hơi thở được trả lại cho gió. Kế đó hơi ấm được trả lại cho lửa. Trong khoảng hai năm đầu tiên chất lỏng được trao trả dần cho nước. Và cuối cùng sau hằng trăm năm trời những chất cứng như gân móng tóc xương sẽ được trả lại dần dần nhưng thật rốt ráo cho đất. Khi đã chết đi thân xác chúng sinh sẽ không hề giữ lại cho mình bất cứ thứ gì ngay cả một sợi tóc nhỏ bé mong manh cũng phải trả lại cho đất. Chàng tu sĩ trẻ bùi ngùi nhớ lại lúc ông nội qua đời chàng vừa thương xót vừa tò mò muốn đến bên cạnh ông nhưng mẹ chàng đã cản lại và nói: “Rahula! Con không được đến gần ông! – mẹ nói rất khẽ - Một xác người chết chỉ sau một hai ngày là đã trở nên hôi hám bẩn thỉu. Dù con có thương ông tới mức nào chăng nữa cũng không được lại gần con hiểu chưa?”. Thuở đó chàng còn nhỏ nên chẳng hiểu bao nhiêu cứ chạy qua chạy lại liếc nhìn mãi cho tới khi người ta đưa ông đi thiêu mới sà vào lòng mẹ mà hỏi: “Mẹ! Tại sao phải đưa ông đi đốt hả mẹ?”. Và cậu bé đã được giải thích rằng người ta thiêu xác ông để ông sớm bay lên cõi giới của các vị thần”. Bây giờ nghiệm lại chàng hiểu rằng chả có cõi giới của thần. Thân xác con người nếu đốt thì thành tro nếu quăng ra bãi thì thành đất từ khi chết cho đến khi tan rã nó là thứ dơ bẩn hôi hám gớm ghiếc nhất trên đời! Rahula ngẫm ngợi tới đó thì ánh mặt trời đã lên tận đỉnh đầu. May mà không khí chẳng đến nỗi quá nóng vì nhiều đám mây lam đang che kín bầu trời. Một vài đám khác có màu xanh lam viền trắng đang sà xuống trên đầu ngọn núi xa xa. Chàng đem thức ăn ra định giải quyết cái bao tử đang cồn cào thì bỗng trông thấy hai người lạ mặt tiến lại gần. Đó là hai thanh niên mặt đầy sẹo trông gương mặt dường như chẳng phải người lương thiện. Cả hai đều mặc y phục màu xám đen người đen điu coi bộ từng trải lắm. Người mắt xếch bước lại không chào mà nói: - Thầy! Chúng tôi vừa quẳng ra đây một xác người. Chúng tôi đã xong việc định đi nhưng còn áy náy một điều. Thầy có thể giúp chúng tôi không? Chàng tu sĩ băn khoăn hỏi: - Giúp là giúp thế nào xin hai vị cứ nói! Người mắt híp phân trần: - Chúng tôi không phải là kẻ giết nạn nhân kia đâu thầy đừng sợ. Chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ đem xác cô ấy lại đây. Nhưng ai chết rồi cũng thật đáng thương huống hồ đây lại là một con đĩ à xin lỗi một người chả hề có thân nhân bên cạnh. Vậy thầy có thể làm chút nghi lễ gì đó cho cô ấy được không? - Thưa hai vị - Rahula lúng túng – tôi không phải là thầy brahman phụ trách cúng tế ở đây. Hai vị cứ nhìn vào trang phục tu hành của tôi đây thì rõ. Tôi là người tu theo đạo của thầy Gotama. Hai vị hãy nhờ một tu sĩ khác đi! Cả hai gã thanh niên lại dáo dác nhìn quanh một lượt. Rồi gã mắt xếch nói: - Biết nhờ ai bây giờ đây hở thầy? Chúng tôi đã cố tìm quanh suốt cả buổi. Nhưng chả thấy ai. Thôi thầy mở lượng từ bi đi! Thầy cố gắng giúp cho chúng tôi đi thầy! Chết mà không ai đọc cho một câu kinh thì đáng thương quá! Tên kia nhắc lại: - Đáng thương quá! Cả hai tên lạ mặt cứ xuống nước năn nỉ mãi. Cuối cùng không thể nào từ chối được Rahula buộc phải nhận lời. Nhưng nhận lời xong chàng lại vô cùng ân hận và bối rối. Chàng thú nhận: - Cả hai vị lầm to rồi nghe! Đạo của thầy Gotama là đạo giải thoát. Thầy của chúng tôi chẳng bao giờ chỉ dạy cho chúng tôi các lễ nghi cúng bái tế tự gì cả. Tu có nghĩa là sửa mình là gạn đục khơi trong là làm cho chính mình trở nên trong sáng tốt đẹp cao cả. Cái lối tu hành mà cứ lao vào bao nghi lễ hình thức phiền toái kia chả đem lại lợi ích gì đâu! Hai gã thanh niên lại níu áo vị sư trẻ. Một gã nói: - Kệ nó thầy à! Thầy cứ đọc vài câu cho có cũng được. Chúng tôi đây có ai biết gì về kinh kệ đâu mà thầy ngại! Thầy giúp cho một chút thầy nhé! Rahula miễn cưỡng bước theo hai người lạ mặt. Xác người con gái nằm phơi mình trần truồng dưới ánh nắng ban trưa. Đó chắc hẳn là một cái chết còn mới rượi vì những giọt máu tươi vẫn không ngớt ứa ra nơi cửa miệng. Môi và mắt cô gái tím đen. Ngay nơi mũi ức chỗ thường phập phồng theo nhịp thở khi người ta còn sống vết dao đâm thật hiểm. Nó giống như một cái hang không đáy vừa sâu vừa rách bươm như thể người ta cố ngoáy nát nhừ thân thể nạn nhân vì một mối thù truyền kiếp. Chàng tu sĩ trẻ thấy trong lòng bừng lên một tình thương không bờ bến dành cho một chúng sinh đau khổ tột cùng. Chàng vội cởi tấm áo cà sa nhẹ nhàng đắp lên thân hình người thiếu nữ. Chàng cảm động nói: - Hai vị có ý nghĩ như vậy thật đáng khen. Tuy nhiên theo tôi cách tốt nhất để giúp một người đã chết là hãy thành tâm cầu nguyện cho thần thức của họ luôn bình an thanh thản. Giờ này cái gọi là thân trung ấm của họ đang vật vờ vất vưởng hết nơi nọ đến nơi kia với trạng thái hoang mang và đau khổ. Hãy cầu mong cho họ đừng lưu luyến chi chốn trần gian hư huyễn này. Xin hai vị hãy cùng tôi chắp hai tay lại nhắm mắt lại và cầu nguyện cho cô ấy đi!

* * *

176) Bọn cướp “quay đầu vào bờ”

Ba tên cướp mặc y phục đen mang khí giới sáng choang vừa chạy quanh trong bãi tha ma vừa la toáng lên: - Karak và Cheka hai ông ở đâu? Karak và Cheka về gấp! Đang thành khẩn quỳ mọp dưới chân vị thầy tu trẻ nước mắt chúng ướt đẫm cả đôi chân thầy bỗng hai gã thanh niên giật mình ngẩng đầu lên thưa: - Bạch sư phụ không xong rồi. Lũ man rợ ấy đi tìm chúng con! Rahula từ tốn nói: - Thành tâm đến với đạo pháp chẳng bao giờ là sai lầm hay tội lỗi. Hai con cứ yên tâm chúng ta sẽ cùng lo chuyện này! Hai đệ tử khẽ đứng lên. Mồ hôi trán toát ra chứng tỏ họ vẫn còn sợ hãi. Cả ba tên lâu la mặt mày như quỷ dữ trờ tới thật nhanh. Một thằng sừng sỏ quát: - Nãy giờ lũ lợn lòi chúng bây không nghe tụi tao gọi hả? Về gấp đừng đợi chúng tao còng đầu đó! Một thằng khác nói họa theo: - Hai thằng mặt lợn còn đứng đó làm gì? Vì tụi bây mà bọn tao phát mệt đây hiểu chưa? Gã mắt híp bực mình cự: - Tụi bây bảo ai là đồ lợn lòi? Ăn nói với tao vậy sao? Thủ lĩnh bảo tao đưa xác con đĩ đó ra đây. Tao đã hoàn thành nhiệm vụ. Tao có lỗi quái gì mà tụi bây dám hoạnh họe tao? Như được tiếp thêm sức tên mắt xếch cũng trương gân cổ lên nói: - Đúng tụi tao có lỗi gì bây thử nói đi! Thằng mặt sẹo nãy giờ im ỉm bỗng phùng mang lên nói lớn: - Tụi bây đưa con mọi đó đi nhưng không chịu về báo lại tình hình. Ngài Mahavira sốt ruột bảo chúng tao lôi cổ tụi bây về gấp hiểu chưa? Một thằng khác nói: - Chậm cũng là một cái tội hiểu chưa? Gã mắt xếch tức mình cự nự: - Chuyện tụi tao để tụi tao lo… Gã nói chưa dứt lời tên sừng sỏ nhất trong lũ ba tên đã hung hăng quát: - Đừng dông dài nữa! Túm đầu hai thằng lợn lòi ấy đem về nộp cho thủ lĩnh đi! Đồng loạt như lúc ra trận cả ba gã lâu la rút gươm giáo ra thị uy. Vị thầy tu trẻ dịu dàng nói: - Này các vị! Các vị không thể đem vũ khí ra để dọa nạt hay hành hung nhau. Đã đụng tới khí giới tất sẽ có ngày mang họa lớn. Tôi đã nhận hai vị này làm môn đồ rồi. Tôi sẽ bảo vệ họ. Tôi không thể để cho họ gánh chịu bất cứ tổn thương nào đâu. Yêu cầu ba vị hãy suy nghĩ cho chín chắn đi trước khi hành động! Thằng mặt sẹo bỗng cười lên hô hố: - Thầy là thầy nào? Hai thằng Karak và Cheka kia tụi bây mù cả hay sao mà lại nhận gã nông dân này làm thầy? Cả một đám lâu la cùng giật mình nhìn lại. Đúng là trước mắt họ chả có ai là thầy tu cả. Rahula đang mặc một chiếc quần gọn trơn ngực và rốn phơi cả ra ngoài lông chân lộ rõ ra từng sợi. Gã mắt xếch chắp tay xuýt xoa thưa: - Thưa thầy bọn này đúng là thô lỗ. Xin thầy bỏ qua cho. Thú thật với thầy tất cả chúng con đây đều là dân chandara vô học. Bao năm qua vì nhận tiền vàng của lũ cướp tham lam kia nên đầu óc ngày càng u tối… Gã chưa nói dứt lời thì tên mặt sẹo đã phùng mang cư nự: - Mầy nói ai u tối? Ai u tối? Mầy dám gây hấn với tụi tao hả? Rahula lại từ tốn nói: - Xin lỗi các vị. Tôi là thầy tu. Hồi nãy vì thương cho hoàn cảnh của cô gái chết mà không có trên mình một mảnh vải che thân nên tôi đã cởi áo cà sa đắp lên mình cô ấy. Tôi thành thật xin lỗi xin lỗi. Đây là lỗi của tôi không phải lỗi của các vị đâu nhé! Chàng tu sĩ trẻ đã nói với một âm giọng tha thiết thành tâm và tỏ vẻ tôn kính đến lạ. Dường như cả năm gã trai tráng đều cảm thấy chính mình bị chinh phục bởi sự thành tâm kỳ diệu đó. Duy chỉ có một mình gã trung niên sừng sỏ nhất trong đám tỏ vẻ nghi ngờ. Hắn nói: - Tay nông dân đen đen gầy gầy này làm sao lại là tu sĩ được? Tụi bây điên cả rồi à? Một thằng mặc sắc phục xám nói: - Anh Karian! Anh đừng nghi ngờ lung tung. Chả lẽ hai đứa chúng tôi đây khùng cả hay sao mà lại xin làm đệ tử một vị nông dân? Tên trung niên quay phắt lại hơi ngạc nhiên vì gã thanh niên đã gọi đúng tên mình. Nhưng hắn vẫn không ngớt lên mặt: - Bất kể tu sĩ hay nông dân. Hãy mặc kệ anh ta với cái bãi người chết thúi rình này. Bây giờ tất cả phải về. Đây là lệnh của thủ lĩnh. Nếu chậm trễ thì hai thằng Karak và Cheka chịu trách nhiệm! Hai gã áo xám đồng thanh nói: - Tụi bây về đi! Chúng tao nhất quyết đi tu. Chúng tao theo thầy Rahula thôi! Thằng Karian tức khí chửi: - Đ.M tụi bây! Tụi bây là chuyên gia đi thu tiền của bọn đĩ điếm và giết người hàng loạt mà bày đặt đi tu đi tẹo cái khỉ mốc gì! Về mau kẻo tao tức điên lên là tao giết sạch! Chưa dứt câu tên đầu sỏ lại rút gươm ra khỏi vỏ. Ánh kim loại lóe lên dưới ánh nắng ban chiều. Chàng tu sĩ Rahula trịnh trọng nói: - Này ông Karian! Ông nên suy nghĩ thật kỹ lại xem! Nghe người khác nói một câu không vừa lòng là tức khắc muốn đem ngay gươm giáo ra để chém giết hành động như thế có phải là quá đáng lắm không? Ông nên nhớ rằng khí giới không giải quyết được gì mà chỉ gây thêm nhiều tội lỗi. Người thật sự có trí tuệ chẳng bao giờ phải cần tới khí giới cả ông hiểu không? Dường như câu nói hào hùng của Rahula đã làm cho gã Karian chột dạ. Gã nói: - Thưa thầy. Xin thầy đừng xen vào việc của chúng tôi. Vì mệnh lệnh của ngài Mahavira nên chúng tôi không thể nào làm khác được. Karak và Cheka hai ông phải về ngay! Rahula cương nghị nói: - Này ông Karian. Mỗi người trong chúng ta đều có một trái tim. Hãy nghe chính mệnh lệnh của trái tim mình. Karak và Cheka đã đi tu. Họ đã trở thành tu sĩ ngay vào lúc chính trái tim của họ đã sáng suốt ra lệnh cho họ. Anh đừng tưởng rằng chỉ khi người ta trang trọng khoác áo cà sa vào mới trở thành tu sĩ. Tôi đây và cả hai người bạn của các anh tất cả chúng tôi đều là tu sĩ. Nếu anh kịp thời quay trở lại nghe theo và làm theo mệnh lệnh của trái tim anh nếu anh biết tôn vinh lòng tốt một cách thành tâm tức khắc anh sẽ biến thành tu sĩ. Chính anh anh Karian ạ anh cũng nên đi tu như họ. Đó là sự chọn lựa sáng suốt. Rất sáng suốt anh hiểu chứ? Gương mặt Karian bỗng trở nên rất đáng thương. Dường như anh ta đang bị giật qua giật lại giữa hai thái cực. Anh ta dè dặt nói: - Thưa thầy. Tôi rất hiểu ý thầy. Nhưng… - Nhưng thế nào? – Từ trên mô đất cao thầy Rahula khẽ cúi đầu xuống hỏi. Giọng chàng êm đềm đến nỗi bọn lâu la bỗng thấy vô cùng bối rối và hổ thẹn với ba thứ khí giới đang lỡ cầm trên tay. Karian nói: - Mệnh lệnh của ngài Mahavira là trên hết. Chúng tôi không thể nào làm khác được. Tất cả chúng tôi đều ngửa tay nhận tiền của vị thủ lĩnh ấy. Vị tu sĩ trẻ ôn tồn nói: - Lòng tốt có sẵn trong trái tim của chúng ta cả rồi. Hãy lắng nghe mệnh lệnh từ nơi ấy. Các anh đừng dại dột vì chạy theo đồng tiền bát gạo mà trở thành nô lệ. Gã tướng cướp có quyền thao túng chỉ vì các anh cúi đầu khom lưng làm nô lệ cho hắn. Mai kia chính hắn cũng sẽ cúi đầu nhận ra rằng háo sát là sai lầm tham của là sai lầm dâm dục là sai lầm và đến lượt hắn hắn sẽ khom lưng trước số phận do chính hắn tự tạo ra. Các anh nên hiểu rằng uy lực của một tên tướng cướp chỉ là nhất thời; uy lực của trái tim của chính các anh mới là vĩnh cửu. Và hắn chỉ có uy lực với những kẻ phục tùng hắn nô lệ hắn. Các anh hiểu ý tôi nói chứ? Chẳng biết từ lúc nào cả ba gã lâu la đã tra hết vũ khí vào vỏ. Chúng cùng gãi đầu bối rối. Cuối cùng Karian thưa: - Thưa thầy. Lỗi tại chúng tôi. Chúng tôi quá nghèo đói nên phải trở thành nô lệ cũng là điều dễ hiểu. Rahula vẫn hơi nghiêm sắc mặt: - Nghèo đói chẳng phải là lý do chính đáng đâu. Nếu các anh không tin tôi sẽ đích thân dẫn các anh tới những thôn xóm mà người dân nghèo mạt rệp nhưng chẳng bao giờ họ nghĩ tới chuyện đi ăn cướp cả. Cha tôi kể tại thôn mmmmm tất cả dân chúng thà đói kiệt sức chứ không đành lòng giết mổ súc vật để ăn. Mọi người ở đó đều nghèo rách mồng tơi nhưng chả ai trở thành kẻ trộm hay kẻ cướp cả. Bọn lâu la trầm ngâm nghĩ ngợi. Vị thầy tu trẻ nhìn gương mặt họ một lượt rồi hỏi: - Tôi xin hỏi thật gã tướng cướp kia trả cho các anh mỗi tháng bao nhiêu? - Dạ thưa. Khoảng sáu trăm đồng tiền vàng – một gã trầm giọng nói. - Bù lại các anh mỗi tháng phải bắt bớ cướp bóc và giết hại bao nhiêu người theo lệnh hắn? - Dạ thưa… không làm sao kể hết đâu ạ – Karian nói xen vào. Rahula uể oải nói: - Thôi được. Nếu nhận thấy làm theo lệnh hắn mà lương tâm các anh chẳng có chút gì áy náy thì các anh cứ tiếp tục. Bây giờ đã chiều rồi. Các anh hãy về đi! Karak và Cheka quỳ xuống thưa: - Bạch thầy! Xin thầy đừng bỏ chúng con. Tên mặt sẹo bỗng òa lên khóc nức nở. Rồi hắn úp mặt xuống chân vị thầy tu trẻ. Hắn mếu máo thưa: - Thưa thầy. Trong lòng con vô cùng đau khổ. Trọn đời mãn kiếp con xin theo thầy. Thầy nhận con làm đệ tử đi thầy ơi! Karian và gã lâu la mặc áo đen còn lại cảm thấy lòng mình vô cùng bối rối. Xúc động dâng trào. Người họ bỗng dưng nổi toàn gai ốc. Tại sao phải tại sao chỉ vì mấy trăm nghìn đồng tiền vàng hàng tháng mà ta đã tán tận lương tâm tới mức bắt bớ giam cầm cướp của và giết người chẳng gớm tay? Tại sao chỉ vì mấy trăm nghìn đồng tiền vàng đó mà ta nỡ đẩy đưa các cô gái như Donna và Sanna vào vũng bùn đen tối? Một cô gái mười mấy tuổi như Donna nếu không bị bắt vào làm điếm trong tòa nhà đầy tội lỗi ấy thì liệu nó có chết thê chết thảm chết nhục chết nh&atil

More...

CÕI CON NGƯỜI

By

Cõi con người

(Trích từ Tiểu thuyết Thầy Gotama và 8.000 đệ tử sắp xuất bản)

Jalah là một hoàng tử khá sành sỏi về cách pha trà. Thứ trà mà chàng mang theo là loại trà hảo hạng mua từ nước Vrijis. Nếu mà trà ướp hoa sen khá nổi tiếng từ xứ Mollos thì không thể pha với nước sông mà phải sử dụng nước lấy từ thượng nguồn tại những con suối trên sườn núi Himalaya. Nếu mua trà lá phơi ba lượt nắng ban mai có ướp hoa sala đã nở rộ nửa tuần trăng từ nước Koliyes thì dùng nước sông nước suối không được vị trà sẽ đắng chát. Trà Koliyes phải pha với nước mưa lấy trực tiếp ngoài trời hoặc pha với nước giếng được lọc đi lọc lại tới bốn năm lượt thì trà mới thơm ngon. Chàng đang có trong tay cả ba thứ trà hảo hạng ấy nhưng vì đang ở bên dòng sông Niranjana nên chàng chọn trà Vrijis cho tiện. Mỗi buổi sáng tinh mơ khi mặt trời chưa ló dạng bơi chừng độ năm mươi sải tay ra tới gần giữa sông lấy cho được thứ nước sông trong trẻo tinh khiết giữa dòng để đem về lọc hai lớp vải mỏng là đã có thể pha được một thứ trà ngon không chê vào đâu được.

Sở dĩ chàng hoàng tử Jalah sành trà đến vậy là vì khi vua xứ Yadavas kén chồng cho công chúa Tharhan hoàng hậu một mực yêu cầu các vương tôn công tử phải thi thố kiến thức về trà. Khi Jalah chiến thắng trong cuộc tranh tài kỳ diệu ấy nàng Tharhan nay là vợ chàng đã vô cùng cảm kích và không ngần ngại tỏ lòng khâm phục chàng bằng một câu ngợi ca bất hủ: - Thiếp xin cúi đầu bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với vị phò mã tương lai! Trong cuộc đời này nếu có một ngày trọng đại nhất đối với thiếp thì ngày đó chính là hôm nay lúc mà thiếp được tận mắt chứng kiến tài năng đức độ và sự thông minh khéo léo của chàng! Những lúc nhớ tới Tharhan chàng Jalah không khỏi mường tượng đến giây phút huy hoàng đó. Không biết xuất phát từ xứ sở nào trên trái đất nhưng trà đạo tượng trưng cho một nghệ thuật độc đáo về cách thức thưởng ngoạn các thức uống mang đậm tính nhân văn đồng thời nó gắn liền với ý thức bình đẳng cho tất cả các giai tầng. Ngồi trước một bình trà ngon không ai không muốn bày tỏ sự cởi mở của mình với bất cứ ai trong nhà bất luận họ thuộc tầng lớp nào. Hôm nay không phải nhờ trà đạo mà chính nhờ quan niệm bình đẳng được thầy Gotama giảng giải trong các buổi pháp thoại đã cùng ngồi với nhau trong tăng xá gần như người ta không còn có khoảng cách giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội. Một cô nàng ăn mặc rất bình dân của tầng lớp sudras như Purna cũng có thể ngồi ngang hàng để trò chuyện cởi mở với những hoàng tử của tầng lớp kratria bảnh bao quý tộc như thường. Tình cảm và sự quan tâm lẫn nhau thật sự xuất phát từ tình đồng đạo hoặc tình người tình bác ái chúng sinh chứ không hề mang đặc thù quyền lợi của một giai tầng xã hội nào. Cho nên việc Jhalu và Jalah đang khoác áo tu sĩ có quan tâm giúp đỡ Purna cũng là chuyện rất bình thường. Purna đã từng cảm nhận sâu sắc tình thương vô bờ bến từ đôi mắt hiền hậu của thầy Gotama cho nên nàng chẳng lấy làm lạ khi tiếp xúc với các sư đang cùng tu bên bờ sông Niranjana. Jalah giỏi về trà nhưng chàng vô tâm đến độ không hề biết chỉ tại uống trà mà sinh ra mất ngủ. Chính vì vậy ai lỡ uống thứ trà hảo hạng do chính tay chàng pha thì đành phải thức trắng đêm. Đầu tiên chỉ có ba người. Sau một tuần hầu hết mọi tu sĩ trong cùng tăng xá với chàng đều thích nhâm nhi từng ngụm say mê thưởng thức và không ngớt lời khen ngợi thứ trà độc đáo ấy. Hễ buổi chiều sau giờ hành thiền các sư tề tựu nơi chiếc bàn con kẻ đứng người ngồi ai cũng cầm trên tay một tách ấm nóng thì đến tối lại chục người như một ai cũng trăn trở suy tư vì mất ngủ. Jhalu vẫn không thôi bị ám ảnh bởi hình bóng thon thả yêu kiều của Purna. Chàng hình dung ra tại tăng xá của chàng dường như bao giờ cũng cùng một lúc có tới hai cô nàng Purna như thế! Một cô nàng Purna bằng xương bằng thịt nói nói cười cười vô tư đứng đắn đang khoác chiếc áo sari do chính tay chàng may vội từ một tấm lụa mà mới hôm nào chàng tình cờ mang theo. Một cô nàng Purna khác cứ chập chờn hiện ra trong tâm trí chàng lúc thì âu yếm ngước mắt lên nhìn chàng hồn nhiên tươi sáng lúc thì toàn thân mềm nhủn mảnh mai như sắp ngả vào lòng chàng. Sâu đậm nhất là hình ảnh Purna trần truồng không một mảnh vải che thân đang ẩn khuất đâu trong tận tiềm thức của chàng cứ thỉnh thoảng hiện ra chập chờn ảo mộng.

Jhalu muốn xua đi hết xua đi trọn vẹn mọi ám ảnh riêng tư chỉ một mình chàng biết nhưng dường như chàng không cách sao làm chủ được mình.

Trong những ngày gần đây điều phiền phức cho nhiều tu sĩ đang sinh hoạt tại làng Uruvela này là sự xuất hiện không ngớt của bầy kiến cánh. Đó là những con kiến màu vàng to khỏe và có cánh rộng dài. Chúng bay vèo vèo dọc theo hai bên bờ sông và có thể bu lên áo casino chui vào tận nách cắn rất đau. Chúng thích đậu trên những cành liễu đong đưa trước gió những gốc liễu còn tươi đang ứa nhựa thơm lừng những bụi trắc bách diệp xanh mướt và ngay cả trên đầu ngọn cỏ non. Có lúc chúng xuất hiện từng đàn đông tới cả trăm con. Đối với Purna vì ít khi ra ngoài nên nàng không ái ngại. Nàng chỉ mong cho sức khỏe mau hồi phục để rời khỏi chốn tu hành này trả lại sự thanh thản cho các sư. Nếu rủi ro bị bầy kiến tấn công thì nàng cũng không sợ hãi gì vì nàng đã quá quen với chúng. Chỉ một cái huơ tay của Purna có lúc tiêu diệt cả chục con. Lỡ có bị kiến cắn cho sưng mặt nàng chỉ cần vò một cọng cỏ mực còn tươi xát lên đó thì sau một đỗi là hết ngứa hết sưng. Nhưng các thầy ai cũng sợ kiến. Lý do là vì họ phải giữ giới không được sát sinh. Nếu kiến bu cắn họ chỉ được phép xua đuổi mà không được giết. Vào lúc chiều tối ai vô phúc bị kiến tấn công thì rất nghiệt. Vì kiến cánh về chiều cứ lì lợm hẳn ra có xua đuổi bao nhiêu cũng không thể được. Đã bao lần chàng tu sĩ Jhalu đã tỏ ra sốt ruột muốn biết vì sao Purna lại liều mình nhảy xuống dòng nước xoáy để quyên sinh.

Thấy không thể trì hoãn lâu hơn nên một buổi tối Purna quyết định kể cho chàng nghe. Nàng nói: - Thầy biết không con lớn lên trong một gia đình chỉ có hai cha con. Mặc dù có lúc cha nóng nảy quát mắng la rầy nhưng cha vốn rất thương con. Khi cha mất mẹ con lại quay về nhà cùng với một người chồng khác. Sự thật trớ trêu ông cha dượng này lại vô cùng dâm đảng. Ông quyết dụ dỗ con. Ông làm nhục con khiến con không chịu nỗi mà phải bỏ nhà ra đi. Vì nghĩ mà buồn cho cuộc đời đen bạc nghĩ mà thương cho mẹ lại cô đơn quạnh quẽ không có chỗ nương nhờ nên con chỉ muốn chết quách đi cho xong! Jhalu chăm chú nghe mà lòng trào dâng một niềm cảm thông vô hạn. Chàng cứ nghĩ mà thương quá chừng quá đỗi cho phận nữ nhi gặp chi toàn cảnh đời oan trái. Riêng Purna sau khi cố uốn lưỡi kể cho xong thì tự cảm thấy hổ thẹn với lòng mình. Nhưng lời đã thốt ra làm sao sửa ngay lại được. Nàng đã định nói thật nhưng dường như nàng sợ khi Jhalu biết hết sự thật thì sẽ khinh rẻ nàng. Hóa ra nói thật đối với người đời cũng vô cùng khó khăn. Đột nhiên ngay phút giây nàng vừa nói xong những lời giả dối để tự nâng phẩm giá của mình thì một loạt ba con kiến cánh bay vèo lên ngoan cố đậu và cắn ngay ở cái khóe miệng duyên dáng của nàng. Purna thuận tay đánh bép một cái. Cả ba con kiến độc địa lăn ra chết bẹp gí trong lòng bàn tay nhỏ nhắn xinh xinh. Chàng Jhalu khẽ cau mày. Ngay lúc ấy chàng nghe Purna nũng nà nũng nịu khóc ré lên: - Ôi! Thầy ơi! Con không ngờ lũ kiến hung dữ này lại cắn đau đến thế! Trái tim trẻ trung khẽ rung lên xao xuyến. Jhalu thấy Purna đúng là quá tội nghiệp đáng yêu. Chàng đã định đưa vạt áo casino lên lau nước mắt cho nàng nhưng đột nhiên bóng dáng thanh cao gần gũi của thầy Gotama hiện chợt lên sáng ngời ngời trong tâm trí. Nước mắt của kẻ nữ nhi có đáng để cho bậc xuất gia phải đoái hoài không nhỉ? Jhalu tự hỏi trong khi mắt vẫn không ngớt nhìn vào khóe miệng của Purna đang sưng tấy lên rất nhanh. Purna xấu hổ đưa bàn tay lên che miệng. Nàng nhờ chàng Jhalu tìm ngay chín ngọn lá cỏ mực nhai nhỏ rồi đắp lên chỗ sưng. Không dễ như nàng tưởng phải đến một tuần sau khóe miệng của nàng mới thật sự lành lặn. Nàng thất kinh hồn vía tự nhủ thầm từ nay không dám mở miệng nói điều gian dối nữa. Toàn bộ câu chuyện đầy kịch tính của Purna lọt cả vào tai Jalah vì chàng vẫn tò mò theo dõi từng bước chân và cuộc trò chuyện của hai người. Jalah cứ nghĩ mà thấy thương cho Purna quá! Tại sao trên đời có thể có một chuyện thương tâm đến như vậy? Giá mà chàng còn là một hoàng tử oai phong lẫm liệt của chốn triều đình chàng sẽ không ngần ngại sai đám cận vệ tìm cho ra tông tích của tên cha dượng lăn loàng bắt hắn phải quỳ mọp xuống xin lỗi dưới chân nàng và đem xử chém bêu đầu cho hả giận.

Nếu chàng đang ở vị trí của Jhalu nhất định chàng sẽ ôm Purna vào lòng để vỗ về an ủi nàng. Một cô bé hiền lành nết na như thế làm sao lại không đáng yêu cho được! Jalah lại trở mình. Chàng nhớ những phút giây ái ân bên vợ đến mức muốn điên lên! * * * Purna thật ra đã hoàn toàn mạnh khỏe từ lâu rồi nhưng nàng im im không chịu nói ra. Có lẽ nàng bối rối vì không biết phải đi đâu. Cũng có thể nàng bịn rịn không muốn chia tay rời xa một ai đó trong tăng chúng. Đối với nàng tìm cho ra một nơi trú thân thật vô cùng khó khăn. Nhưng sự thật oái ăm. Bụng nàng ngày càng lớn rõ. Cái tin nàng có thai trong chỉ hai tuần đã lan tràn khắp đó đây! Các thầy tu đã xuất gia vốn không phải là người nhiều chuyện.

Họ dành hết thời gian cho việc thiền định nghiêm túc dưới bóng cây pipala như trước đây thầy Gotama đã làm. Họ tranh thủ gặp thầy Gotama và các đại đệ tử của thầy để say sưa đàm đạo về những chủ đề sâu xa những chi tiết khó lĩnh hội trong giáo lý. Khi rảnh rỗi hoặc lúc trời mưa gió không thể ra ngoài trời được họ tẩn mẩn xem đi xem lại những câu kinh được ghi chép tỉ mỉ bằng chữ sanscrit trên các cuộn vải màu trắng mà họ đã cẩn trọng cất giữ trong những chiếc rương bằng gỗ mun. Theo gợi ý của thầy Gotama nhiều tu sĩ trong nhóm thờ thần lửa trước kia còn sáng tạo ra một loại chữ mới na ná như chữ sanscrit mà họ gọi là chữ pali cho dễ đọc dễ hiểu. Việc có một người nữ ở lại trong tăng xá quả thật rất phiền hà. Trước đây thầy Kondanna dứt khoát đuổi nàng đi khi thấy nàng đã lại sức; nhưng nhiều sư ở chung tăng xá đó đã thương tình xin cho nàng tạm thời tá túc vì nàng không có nơi nương tựa. Người đầu tiên trố mắt nhìn cái bụng mang dạ chửa của nàng một cách đầy kinh ngạc là Jalah. Chàng trai tự hỏi: Quái! Chẳng lẽ anh Jhalu dám làm cái chuyện điên rồ ấy sao? Thấy hai người cứ nhỏ to tâm sự với nhau hoài không biết có phải anh ấy đã xiêu lòng không nữa! Jhalu thì vẫn rất vô tâm vì tin chắc đó là cái thai do nàng bị cha dượng cưỡng dâm. Tuy nhiên chàng đâm ra buồn lòng ít nói. Vẻ mặt đăm chiêu của chàng khiến cho ai nấy tuy không nói ra nhưng cứ ngỡ chàng có dính líu gì tới cái thai nghiệt ngã ấy. Chuyện đến tai thầy Kondanna. Lần này thì thầy không thể bao dung được nữa. Thật là mất mặt cho tất cả tăng chúng đang xuất gia tu hành nghiêm mật tại đây. Thầy ra lệnh ngay trong buổi chiều hôm nay dứt khoát phải đưa cô ả ra khỏi tăng xá ai tiếp tục chứa chấp coi như phạm quy sẽ bị bêu tên trước toàn thể tăng chúng. Jhalu đã đau lòng lại càng đau lòng hơn. Làm sao bây giờ? Suốt gần hai tháng qua chàng đã hết lòng cưu mang nàng bao tâm sự vui buồn đều cùng nhau chia sẻ giờ chẳng lẽ chính chàng phải xua đuổi Purna hay sao? Suốt buổi trưa hôm đó chàng không ngớt suy tư bứt rứt. Chàng đến xin yết kiến thầy Gotama. Sau khi nghe rõ câu chuyện thầy giãi bày: - Con hãy giữ tâm thanh tịnh. Đừng nên băn khoăn. Mọi sự đều do duyên mà hợp hết duyên mà tàn. Hiện nay sức khỏe của cô bé đã tốt. Chúng ta không có lý gì để giữ cô bé ấy ở lại trong tăng xá. Đây là chốn tu hành con biết chứ? - Dạ con biết. Nhưng thưa thầy nếu cô gái tiếp tục có ý định tự vẫn thì làm sao hở thầy? – Jhalu lo lắng hỏi. - Vậy đệ tử có thể nào đi theo cô ấy suốt đời để ngăn cô ấy đừng chết không? Hiện nay cô ấy ý thức rằng cô ấy đang có một sinh linh trong cơ thể. Cô ấy sẽ không sao đâu! - Thầy Gotama nói với một giọng trầm ấm và đầy âm lực như thể thầy đã biết hết cuộc đời trong tương lai của Purna. Chiều đến khí trời se lạnh. Mưa bắt đầu rơi lất phất bên ngoài song cửa. Jhalu vẫn xót xa vô hạn vì Purna ra đi trong lúc thời tiết thế này thật đáng thương tâm. Chờ mãi đến sẫm tối mà mưa vẫn không dứt. Jhalu chuẩn bị hành trang cho nàng trong một túi vải gồm một ít lương khô mấy tấm vải còn mới khoảng bảy cân gạo và một chiếc áo bông. Mỗi khi nhìn ra thấy mưa bay còn nặng hạt chàng gần như không cầm được nước mắt. Các sư có mặt đông đủ trong tăng xá. Ai cũng nhìn và nói những lời đầy tình nghĩa lúc chia tay nàng. Việc gì đến phải đến. Purna lặng lẽ cúi đầu chào hết mọi người. Nàng cố nín thinh không khóc. Jhalu bước ra tận cửa nhìn theo. Đột nhiên chàng nghe Jalah vặn hỏi: - Anh không thu xếp tiễn Purna đi một đoạn à? Em thấy anh không xứng đáng là đấng nam nhi! Em trong hoàn cảnh anh thì em làm khác! Đưa tay lên vuốt mặt cho đỡ ướt Jhalu nói: - Tu hành là việc hệ trọng. Anh không thể bỏ dở được. Purna tần ngần đứng lại. Jalah nói giọng khá nặng nề: - Đã thương thì thương cho trót! Một thai phụ giờ đây ra đường thật là khốn đốn và nguy hiểm. Anh không biết điều đó sao? Lương tâm của anh đâu rồi? - Anh không thể làm khác được. Chắc Purna cũng hiểu cho anh – Jhalu bình tĩnh đáp.

Đột nhiên Jalah quát lớn: - Anh là đồ hèn! Vậy mà lâu nay em cứ tưởng... Thôi được. Những gì anh không làm được cho Purna thì em sẽ làm! Nói rồi Jalah òa khóc.

Chàng vào nhanh bên trong soạn vội hai tấm áo casino một cái đai lưng do chính phụ hoàng trao tặng một ôm trà một bộ tách bằng sứ tráng men. Chàng cho hết vào một bao vải thô và mang vội lên vai. Không kịp chào các anh em cùng cha khác mẹ trong tăng xá chàng bước ra ngoài cầm tay Purna kéo nàng đi. Sự việc diễn ra nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng của Jhalu. Chàng đứng thộn ra như trời trồng đôi mắt mở lớn như muốn thu trọn không gian vào ký ức. Tim chàng đánh thình thịch. Chưa bao giờ trong đời chàng lại gặp một chuyện khó xử đến như vậy. Bên ngoài trời mưa lớn hơn. Gió phầng phật bật tung những tấm phên liếp che tạm nơi cửa sổ. Lòng chàng Jhalu làm sao yên ổn được! Chàng bước vào bên trong ngồi xuống trên tấm phản ôm đầu một hồi lâu.

Tu sĩ Siva Sivatti anh ruột chàng từ tăng xá kế bên vội đội mưa chạy sang. Jhalu ngước mặt lên nhìn thấy chiếc áo casino của anh mình ướt đẫm. Chàng nghe giọng anh Siva ân cần bảo: - Jhalu à. Mỗi người đều có cách chọn lựa hành động của mình. Nếu em đã suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định ở lại để lo việc tu hành thì em đừng băn khoăn gì nữa. Jalah đi là chọn lựa của nó. Jalah có lòng trắc ẩn có bản lĩnh đàn ông nhưng tiếc là hơi nông nổi. Anh chỉ cầu mong chú ấy đừng quá bồng bột làm mất đi phẩm chất của bậc xuất gia. Đừng suy nghĩ gì nữa em! Jhalu lần tìm bàn tay lạnh ngắt của anh. Chàng ôm bờ hông của anh lại như muốn biểu lộ một cảm xúc mãnh liệt đang dâng trào. Và đêm ấy mặc dù không ai pha trà để uống chàng vẫn không sao ngủ được. * * * Ở ngoại ô thành Banaras xuất hiện hai người lạ mặt: Một tu sĩ áo vàng còn rất trẻ nhưng vẻ mặt đường bệ dáng đi mạnh mẽ. Bộ râu nâu đen lan rộng tới cằm làm cho ông ta dù có cười cũng không xóa đi được cái vẻ trang trọng uy nghiêm. Người kia là một cô gái tuy chừng mười tám đôi mươi nhưng cái bụng lúp lúp làm người ta biết ngay cô ta đang có thai chừng năm sáu tháng. Người đi đường chủ yếu là giới bình dân. Trời nắng rát da cho nên ngoài cái khăn chít đầu truyền thống từ người già tới thanh thiếu niên ai cũng đội thêm một cái mũ lá trùm tới mang tai cho dịu mắt. Có điều lạ: Nếu họ đi trái chiều thì thể nào cũng quẹo cổ sang nhìn cho rõ mặt hai người lạ. Nếu đi cùng chiều thì đằng nào cũng ngoái cổ lại liếc xéo cho được một cái. Ai cũng tò mò tọc mạch muốn biết xem họ là người từ đâu đến tại sao một tu sĩ lại có thể đi bên một thai phụ được. Cứ mỗi khi hai người dừng lại sắm thêm một món đồ được bày bán bên vệ đường khi thì một cái lược con một tấm khăn hồng mỏng dính một cái túi da khi thì một con dao nhỏ để cắt tỉa râu một chiếc vòng đeo tay bằng mã não người ta đứng tụ lại thành đám đông để trố mắt nhìn. Suốt hằng chục dặm cả hai đều đã thừa kiên nhẫn để chịu đựng những cái nhìn xoi mói khinh khi. Nhưng vậy vẫn chưa đủ. Giờ đây càng lúc càng đi gần hơn về phía thành Banaras thỉnh thoảng gặp năm bảy người thuộc giới ksatria mình đeo đồ trang sức cầu kỳ cả hai mới thật sự thấy chột dạ vì những cái nhìn khinh khỉnh vừa tỏ ra hiếu kỳ quá đáng vừa tỏ vẻ coi thường. Cô gái không chịu nổi. Trong lòng cô dấy lên những câu chửi thề cho bõ tức: Tiên sư cha tụi bây! Tao có phải là gái đứng đường đâu mà tụi bây dòm ngó tao quá trời quá đất vậy! Chàng tu sĩ không tự trấn an được nữa. Một tiếng nói từ tiềm thức bật lên: Ta là bậc chính nhân quân tử. Ta có làm gì các ngươi mà các ngươi lại hành hạ ta bằng ánh mắt khinh nhờn đến thế kia? Cô gái đã đuối sức vì đường xa lại mệt vì cái thai nặng nhọc không cất bước đi nhanh được nay càng chán ngán thêm vì những cái nhìn chăm chăm xoáy sâu vào cân não. Cũng may cho nàng là cả hai đang đi tới một quán trọ dọc bên đường. Quán trọ khá bề thế.

Dưới bóng cây đại thụ to đến chục người ôm không xuể giữa tiếng lá cây xào xạc tiếng chim chóc ríu rít chuyền cành có thể nhìn ngắm không chán mắt một cái cổng to rộng trưng lên một dãy chữ brami rồng bay phượng múa mạ đồng. Chàng tu sĩ khẽ nói để cô gái biết đây là quán trọ Datavyam tiếng brami nghĩa là cúng hiến. Chủ nhân của nó có lẽ là một người quý tộc đến từ nước Sakya hoặc nước Vrijis thờ đa thần. Khi bước vào bên trong cả hai cũng không thoát được những tia nhìn xoáy vào tâm não của những cô gái còn rất trẻ và bà chủ quán trọ có đôi mắt đen to. Khuất đằng sau cái vẻ ân cần hiếu khách là một sự tò mò tọc mạch không kém gì những kẻ qua đường. Chàng tu sĩ quyết định đặt một phòng ở tầng trệt cho cô gái và một phòng ở tầng trên. Chàng hỏi: - Ở đây nơi cao nhất là tầng mấy? - Thưa tu sĩ tầng ba ạ. Nhưng... - bà chủ quán trọ hỏi - hai người cùng đi với nhau sao lại không đặt hai phòng sát bên nhau cho tiện? - Đó là sự chọn lựa của tôi. Xin cảm ơn bà – Chàng tu sĩ ráng ôn tồn nói. Từ trong sâu thẳm chàng muốn bật lên một câu rằng Bà có liên quan gì với chúng tôi mà phải hỏi nhưng câu nói bực bội ấy đã không bật thành lời. Cô gái được mời vào phòng. Chiếc giường gỗ bóng nhoáng trải tấm đệm màu vàng làm căn phòng trở nên sang trọng hẳn. Mùi nước hoa tỏa ra thơm ngát. Cô gái ráng hít thở hai ba hơi cảm nhận cho hết sự thoải mái sau một chuỗi ngày vất vả mệt mỏi gió bụi trên đường. Tấm lưng của nàng nằm doãi xuống giường tạo ra một cảm giác êm ái không thể tưởng. Rồi nàng ngủ thiếp đi. Lên tới tầng tư chàng tu sĩ quăng túi vải xuống chiếc giường bên cạnh đoạn nằm dài trên chiếc giường trải nhung xanh. Sau vài cái hít thở dễ chịu chàng ngồi dậy kiếm nước uống một hơi cho đã khát rồi lăn ra giường ngáy một hơi thẳng cẳng. Cuộc sống của hai vị khách vẫn êm đềm trôi qua. Chàng tu sĩ đầu trọc thế mà nhiều tiền vàng ra phết. Cứ sau mỗi buổi sáng chàng trả ngay ba đồng tiền vàng và thưởng thêm cho người dọn phòng một ít.

Hằng đêm có lúc tận khuya lén nhìn vào căn phòng cứ thấy vị tu sĩ ngồi xếp bằng tròn hai lòng bàn chân ngữa lên trời hai bàn tay hờ hững chồng lên nhau để nhẹ nhàng trong lòng đôi mắt lim dim như đang trầm tư mặc tưởng. Cô gái vừa mới được tuyển đến khá xinh xắn trong chiếc áo sari đen có đường viền kim tuyến. Khi đến dọn phòng cô phải đợi tới khi mặt trời lên quá vòm cây mới dám cất tiếng hỏi: - Thưa thầy. Xin thầy cho biết sáng nay thầy dùng thức ăn như thế nào để con dọn ạ? - Không cần đâu. Lần sau con cũng không cần hỏi thế. Ta sẽ vệ sinh thân thể. Sau đó hành thiền cho đến xế trưa. Ta sẽ đi một vòng khất thực ăn đúng ngọ dọc đường. Mãi đến chiều ta mới quay về. Con đừng bận tâm. Nói rồi vị sư khẽ mỉm cười nhưng cô hầu phòng không nhận ra. Chòm râu dài và rộng màu nâu đen của tu sĩ đã che khuất mất nụ cười. Cô gái chỉ lo một ít nước đun sôi để khách tự pha trà rồi lẵng lặng xuống cầu thang. Mãi ba ngày sau cô hầu phòng mới nhận ra vị tu sĩ có mối liên quan với cô gái bụng bầu trọ ở căn phòng đặc biệt nằm dưới chân cầu thang bên phải. Đầu tiên cô gặp hai người trò chuyện thân mật với nhau dưới bóng cây đại thụ khi vị tu sĩ ôm bình bát đi ra.

Cô tự hỏi: “Sao kỳ vậy cà? Một ông sư một bà có chửa? Sao họ thân tình đến thế cà?”. Lần thứ hai cô thấy vị sư đưa cho cô gái bụng bầu một túi vải đựng toàn tiền vàng để thanh toán tiền phòng. Những đồng tiền óng ánh đằng sau tấm vải lụa làm cho cô hầu phòng quá đỗi ngạc nhiên: “Ủa? Sư sãi gì mà nhiều vàng bạc châu báu dữ quá vậy cà?”. Cô ấy có biết đâu vào những đêm khuya thanh vắng vị tu sĩ trẻ chỉ cầu mong cho cô gái bụng mang dạ chửa sớm khai hoa nở nhụy mẹ tròn con vuông để chàng mau mau trở về làng Uruvela tiếp tục việc tu hành. Thành Banaras lại trải qua một mùa đông rét mướt. Mưa xối xả dội xuống ngập hết tất cả các lối đi. Mưa ồ ạt tràn xuống từ mái hiên tạo ra một bức màn trắng xóa kéo lê lết xuống ướt ngập cả sân vườn. Cái lạnh ban đầu chỉ thoảng qua hiu hiu trong gió.

Càng về chiều hơi lạnh càng buốt giá như băng xoáy tít thật sâu vào da thịt. Những cô gái hầu phòng bâng khuâng ngồi nhìn mưa rơi mà lòng héo hắt. Bà chủ quán trọ thở vắn than dài vì nhà trọ trời mưa thưa khách. Chợt bà nghe một tiếng rên rất khẽ. Lắng nghe cho kỹ bà nhận ra tiếng rên xuất phát từ một căn phòng tầng trệt. Sau khi tìm hiểu bà ra lệnh đám gái hầu phòng báo ngay cho vị tu sĩ biết dường như cô gái mang thai đang lên cơn đau quặn bụng. Vị sư trẻ bối rối chạy xuống phòng tầng trệt. Thấy cô gái toát mồ hôi trong cơn đau kịch liệt chàng đưa mấy đồng tiền vàng ra nhờ cô hầu phòng đi mời ngay một bà mụ vườn tới thăm nom chăm sóc. Cực nhọc lắm mãi tới trưa người ta mới mời được một bà lão chân thấp chân cao bước vào phòng. Sờ qua nắn lại bà cho biết thai vẫn tốt cơn đau sẽ qua dần vì mãi ba tháng nữa mới sinh. Nhìn vẻ mặt đau đớn đáng thương của người con gái còn quá trẻ vị sư bỗng thấy tim mình quặn thắt từng hồi. Đến khuya khi bà mụ đã ra về nhà sư vỗ vai cô gái nói: - Bây giờ ta lên phòng. Nếu có gì lạ trong người cô hãy báo ngay để ta biết nhé.

Nói xong nhà sư bước vội ra cẩn thận khép kín cửa để hơi lạnh khỏi lọt vào bên trong. Cô gái nằm nghiêng mặt vào tường nghĩ tủi thân nước mắt tràn ra ướt cả chiếc gối phủ lụa vàng. Trời sinh ra đàn ông là để che chở bảo bọc cho đàn bà những lúc gian nan vất vả. Vậy mà khi trải qua những nỗi đau lớn lao cô gái cứ phải một thân một mình chịu đựng không có ai sẻ chia an ủi nghĩ thế sao không đau lòng cho được. Trời cao thật vô tình. Cứ càng khuya càng lạnh buốt. Sờ cả vào chiếc đệm vào tấm chăn vào đôi cánh tay trần cứ thấy một nỗi lạnh lẽo bao quanh. Có ai hiểu được lòng cô gái bụng mang dạ chửa giữa đêm khuya thanh vắng chẳng có bóng dáng chồng? Ngày hôm sau cơn đau dịu hẳn. Nhưng tới khuya lúc nhà sư đang an giấc sau giờ thiền định bỗng nhiên cô hầu phòng gọi to: - Không xong rồi thầy ơi! Con nghe ở tầng trệt người ta đang inh ỏi lên vì cô gái trở bệnh! Chàng tu sĩ trẻ tuổi luýnh quýnh bươn mình chạy xuống. Từng bước chân lật đật vang lên trên cầu thang gạch về khuya tạo nên một âm vang kinh động lòng người.

Bước vào chàng thấy cô gái vã mồ hôi đầm đìa hai bàn tay co quắp môi tái ngắt. Sau khi đã đắp kín tấm chăn cô gái vẫn than trong người quá lạnh. Giọng run run cô gái nói: - Thầy ơi! Chắc con không sống nổi rồi! Con thấy người lạnh ngắt. Nhìn sắc mặt đau đớn khổ sở của cô gái chàng tu sĩ xúc động run lên. Chàng nói: - Con cố gắng lên. Ta sẽ nhờ người đem thật nhiều chăn bông đến cho con. Rất nhanh nhẹn nhà sư sai bảo cô hầu phòng kiếm thêm ba chiếc chăn bông dày cộm. Đắp vậy mà cô gái vẫn cứ run lên từng chặp. Chiếc giường gỗ chao động từng hồi tạo ra một chuỗi âm thanh buồn não nuột. Đêm đó vị sư thức đến gần sáng. Khi nghe cô gái đã khe khẽ ngáy o o trong mấy tấm chăn bông thầy mới yên tâm quay trở lại phòng thầy. Do sự bất tiện phải chạy lên chạy xuống nhiều lần nhà sư quyết định chuyển phòng của sư xuống kế phòng cô gái cho tiện.

Một buổi sáng tinh mơ ngồi tĩnh tâm ở hành lang ngay trước phòng nhà trọ vị sư thoáng thấy cô gái bước ra từ căn phòng dáng đi đã có phần cứng cáp. Khéo chải tóc gọn gàng đính thêm chiếc trâm cài gắn pha lê óng ánh trông cô hôm nay tươi trẻ hẳn ra. Tôn trọng buổi tĩnh tọa của thầy cô gái chỉ đứng say sưa nhìn không hề nói. Cô nghĩ mà thương cho vị sư trẻ tuổi biết bao. Lẽ ra giờ này sư đã cùng các sư khác trong tăng xá thực hành buổi tụng niệm buổi sáng thong thả để hồn mình lắng sâu trong câu kinh tiếng kệ. Rồi thầy sẽ ngồi êm đềm dưới cây pipala tham thiền nhập định. Sinh hoạt của các thầy tu bên dòng sông Niranjana mới thanh khiết yên tịnh và đầm ấm biết bao. Nghĩ mà thương cho thầy chỉ vì lo cho mình mà thầy phải khổ thân chịu bao đắng cay tủi nhục. Cô biết thầy đã có lúc sầu não vì ánh mắt nghi kỵ nhỏ nhen của tất cả mọi người. Cô biết có những lúc thầy đã quá đau lòng xót thương cho hoàn cảnh tội nghiệp của cô. Cô gái nhìn xa ra nơi ngọn cỏ đìu hiu trước gió bất giác cô để trào đôi dòng lệ trong veo nơi khóe mắt. Nhà sư cảm thấy dạo này hơi mập. Cũng phải thôi vì sư chỉ cần đi một lượt là bao nhiêu thức ăn đã đầy ắp trong bình bát.

Dân thành Banaras không giống như nhiều nơi khác. Đa số họ khá giả nhờ buôn bán và lao động cực lực. Đi dọc con đường chính nhìn mông lung ra hai bên mới thấy hết sự sầm uất của một khu vực đang phát triển mạnh. Nơi các cửa hàng bán nữ trang nào những chiếc vòng đeo tay làm bằng đá carnelian sáng bóng những đồ trang sức đeo trên đầu cũng được làm bằng lapis lazuli xinh xắn không chê vào đâu được. Rồi nào là những chiếc dây chuyền gắn ngọc thạch anh những sợi dây đeo cổ tay bằng mã não. Bước ra phía ngoại ô người ta có thể thấy ngay hàng trăm khu đất trồng lúa mì hàng trăm khu rừng mênh mông trồng bông vải trồng chà là trồng vừng trồng đỗ. Sự giàu có của thành Banaras ít nơi nào sánh được. Phần đông thị dân là những người hiền lành chân chất. Họ sùng bái các thầy tu theo đạo brahman nhưng nếu gặp các tu sĩ theo các tôn giáo khác họ vẫn tỏ sự kính trọng như thường. Thoạt đầu khi gặp nhà sư trọc đầu mặc áo casino vàng đi khất thực giữa các nẻo đường họ hơi ngạc nhiên vì xưa nay ít thấy. Nhưng chỉ vài ngày sau tất cả họ không trừ một ai đều xem việc cúng dường đến tận tay thầy là một nếp sinh hoạt vô cùng đạo hạnh. Vừa thấy bóng dáng sư xuất hiện đầu ngõ họ đã vội vội vàng vàng nhắc nhau bưng những quả chuối vừa chín tới những ổ bánh mì còn nóng hổi hay những vắt cơm vừa mới hạ lửa còn bốc mùi thơm lựng bước ra đường. Thái độ trân trọng của việc cúng dường quả là một điều đáng cho nhiều nơi học hỏi: Đầu tiên thí chủ bước vội bằng đôi chân trần ra đường người như thấp hẳn xuống mắt cứ ngước nhìn lên vô cùng trang trọng. Với đôi mắt khép nép cẩn trọng như không dám mở to sợ ảnh hưởng đến phút giây thiêng liêng cao quý của đấng tu hành họ chắp hai bàn tay lại lạy chào.

Chờ nhận xong cái vái trả chầm chầm của nhà sư họ tẩn mẩn đưa năm ngón tay sờ nhẹ lên chiếc nắp bình bát. Họ thận trọng mở ra. Áng chừng khoảng trống trong bình bát vừa đủ để chứa đựng món vật phẩm mà họ định cúng dường họ nháy mắt cho gia nhân nhích lại gần tự tay thí chủ khệ nệ ôm bằng hai bàn tay đưa vật phẩm vào gọn gàng trong bình bát. Xong đâu đấy họ nhẹ nhàng đậy nắp bình bát lại mắt vẫn giữ vẻ trang trọng kính cẩn nhìn thầy. Rồi họ khẽ cúi đầu chắp tay vái lần thứ hai. Khi nhận xong cái vái trả của thầy họ mới yên tâm nép người sang một bên hai tay vẫn chắp trước ngực. Khi vị sư ung dung bước đi chừng năm bước thí chủ mới dám lùi vào bên trong. Vẻ mặt vẫn trang nghiêm kính cẩn không dám đùa giỡn ít ra là trong suốt nửa canh giờ. Nhà sư cảm thấy tình cảm mà người dân nơi đây dành cho thầy thật đáng trân trọng biết bao.

Rồi vì mưa bắt đầu rơi thầy bước vào phòng bắt đầu pha một tí trà Vrijis để nhâm nhi. Trong khi lục soạn thầy ngối ngắm lại chiếc dây đai bằng da thuộc có đính ngọc thạch anh sáng nhoáng. Đây quả là vật gia bảo vô cùng tôn quý. So với các loại trân châu khác thì đây đúng là một loại bảo ngọc không lẫn vào đâu được. Nó lấp lánh muôn màu. Nó như phản chiếu ánh mặt trời và nhốt giữ ánh mặt trời vào trong ấy ngay cả khi bên ngoài sắc trời đã ngầu ngầu đục. Đẹp nhất là lúc về đêm khi ánh nến khẽ chiếu lên các viên ngọc chúng phát ra một thứ ánh sáng nửa vàng nửa xanh như thể màu mắt kỳ diệu của một con mèo tam thể móng vàng được chọn mua từ xứ Yadavas nổi danh với nhiều loài súc vật quý hiếm. Vị sư dùng chiếc dây đai để đeo lưng thay cho sợi dây thừng lâu nay cứ hay tụt lên tụt xuống. Cúi nhìn những viên ngọc thạch anh lấp lánh phản chiếu màu vàng của chiếc áo casino sư khẽ nở một nụ cười tươi.

Đêm hôm đó sư được thưởng bằng một giấc ngủ thật ngon. Chiếc bụng phệ ung dung nằm ở giữa đôi chân dang rộng rất thong dong đôi tay xuôi về hai bên thoải mái và chiếc cổ phì phò theo tiếng ngáy. Đến gần sáng mưa mỗi lúc mỗi to. Tiếng mưa dội xối xả xuống chiếc máng xối rất ồn ã và tiếng nước chảy róc rách quanh ngôi nhà trọ làm sư chợt thức giấc. Mở mắt sư phát hiện thêm được một cánh cửa khép hờ còn thông qua phòng bên cạnh phòng của cô gái trẻ mang bầu. Sư rất ngạc nhiên. Quái! Mấy bà mấy cô làm ăn kiểu gì kỳ vậy? Lỡ ra hai khách trọ chẳng quen biết gì nhau thì đây có phải là bất tiện cho khách không nào? Đột nhiên sư nghe một tiếng rên rất khẽ. Lắng nghe kỹ trong tiếng rên khẽ ấy có cả tiếng khóc ấm a ấm ức. Chỉnh lại chiếc đai lưng cho ngay ngắn sư mở nhẹ cánh cửa để nhìn sang thấy cô gái vẫn nằm trên giường chắc là đang ngủ. Nhưng tiếng khóc lại òa ra lần này to hơn các lần trước. Sư thấy xót trong lòng. Sư bước sang đứng thật sát vào giường. Khuất khuất ẩn ẩn dưới ánh nến lập lờ sư thấy cô nàng vẫn nằm dang rộng đôi tay mặt ngước lên trần.

Chiếc cánh mũi của cô phập phình theo tiếng nấc nghẹn ngào. Những giọt lệ trong veo óng ánh rơi chầm chậm xuống khóe mắt lan trong làn tóc rối rồi biến mất vào chiếc gối màu vàng ánh. Đôi vồng ngực căng đầy phập phồng trong nhịp thở uất nghẹn. Tấm chăn phủ ngang ngực để lộ một khoảng da thịt hững hờ và đôi bàn chân nhỏ nhắn xinh xinh có lẽ đang rất lạnh. Sư nuốt nhẹ một ít nước bọt rồi nhích người rất khẽ nhón tay kéo tấm chăn đắp nhẹ nhàng lên đôi chân trần ấy đoạn ngần ngừ đôi phút trước khi định quay gót bước khỏi phòng. Chợt sư nghe tiếng khóc im bặt. Thay vào đó là tiếng nói trong trẻo êm tai: - Bạch sư! Con buồn quá sư ơi! Rồi cô gái ưỡn mình ngồi dậy. Đôi mắt của sư không thể không nhìn vào khoảng hở phía trên ngực áo lúc cô gái đang trở người.

Sư nuốt nước bọt nói: - Con ngủ không được sao? - Nhìn sư con thấy buồn cười quá! – Cô gái không trả lời mà lại nhoẻn miệng cười. - Buồn cười thế nào? – Sư ngồi khe khẽ xuống giường đầu hơi nghiêng vì ngạc nhiên. Cô gái nhìn chăm chăm vào khuôn mặt nhà sư đoạn nói giọng vô cùng trong trẻo: - Ai từng đời... cái đầu thì trọc lóc mà bộ râu thì đậm đen không chịu cạo! Sư già chẳng già trẻ chẳng trẻ! Thấy vẻ thân mật hồn nhiên của cô gái sư bật cười: - Chớ... con thấy ta già lắm sao? - Chẳng biết nữa. Nhưng rất buồn cười sư ơi! Sư cứ thử nhìn vào tấm gương kia đi thì rõ! Đúng là lâu nay mình đã quên tự nhìn vào gương. Sư khẽ khàng đứng dậy tay sửa dây đai mắt chăm chăm tự ngắm mặt mình. Bỗng sư phì cười: - Ồ! Một phát hiện hay đấy! Ta cạo bộ râu đi chắc trẻ hơn nhỉ? - Hẳn nhiên rồi sư! Nói xong cô gái lại lắc đầu nguầy nguậy nụ cười xinh tươi vẫn nở trên môi. Nhà sư trẻ quay lại bắt gặp đôi mắt cô gái rất đỗi linh hoạt đáng yêu. Nó chợt như ánh sao hôm vừa lóe cũng tựa như ánh trăng đang phảng phất mặt hồ.

Tâm tư nhà sư chìm trong ánh mắt. Sư bước lại vuốt mái tóc rối bời của cô. Giọng sư lạt hẳn: - Con thấy cuộc đời buồn lắm sao? Hãy lo giữ sức khỏe đi! Đừng nghĩ quẩn! Nói vậy nhưng bao tâm trí sư chẳng để vào lời. Sư đặt mông ngồi xuống bên cô gái. Trời vẫn đang rất lạnh. Cặp đùi sư căng lên làm người sư nóng ran ran. Sư lại nuốt nước bọt khẽ nhích lại rất gần nghe như hơi thở ra nồng nàn của cô gái cứ phả hết vào người sư. Sư thấy đôi môi tươi của cô đang mấp máy. Đầu óc sư mụ mị đi. Đoạn cơ thể từ đai lưng trở xuống bỗng trở nên mạnh mẽ phi thường. Sư hít một hơi thật sâu. Lại thêm một hơi nữa. Đôi môi và hàng râu của chàng tu sĩ trẻ chỉ còn cách đôi môi cô gái có nửa gang tay. Sư khẽ đưa lưỡi ra liếm quanh mép.

Cặp đùi săn chắc của sư áp vào người cô. Đôi bàn tay của sư leo sang đôi bờ vai nửa kín nửa hở của cô gái. Mắt sư không rời khoảng hở gợi tình trên chiếc áo sari màu bầng quâng. Bỗng cả hai nghe một chuỗi cười man rợ. Nổi lên giữa tiếng mưa rả rích là một chuỗi tiếng cười choán hết không gian. Sư thất kinh hồn vía nhìn ra các cửa sổ. Lô nhô lố nhố có đến bảy tám cái đầu phụ nữ đang ngất nga ngất ngưỡng cười vang vang như vừa mới được thả ra từ một cái bể nhốt tiếng cười.

Sư chết điếng.

More...

DI CHÚC HIẾN XÁC VÀ HIẾN TẠNG

By

Di chúc hiến xác và hiến tạng

Khởi viết ngày 5 tháng 5 năm 2008

Viết xong ngày 31 tháng 8 năm 2010

Kính gởi:

- Các cơ sở điều trị có khả năng ghép tạng

- Thân nhân và người bệnh có nhu cầu ghép tạng

- Các viện nghiên cứu y học đang tìm kiếm người hiến xác

Tôi tên là Trần Như Luận hiện cư trú tại 370 Trần Hưng Đạo Quy Nhơn Việt Nam. Tôi là một bác sĩ một nhà văn một người hoạt động từ thiện. Số điện thoại nhà riêng: +84563518189.

Tôi nhận thấy rằng trong những năm qua việc ghép mô bộ phận cơ thể người tại Việt Nam và nhiều nước trong khu vực đã có những bước tiến đáng kể. Nhu cầu được ghép mô bộ phận cơ thể người và nhu cầu có xác để nghiên cứu khoa học rất lớn và ngày một tăng. Cả nước thường xuyên có khoảng trên 8.000 người suy thận mạn cần được ghép thận khoảng hơn 8.000 người đang chờ được ghép giác mạc. Riêng tại Hà Nội đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép gan...

Ngày 29/11/2006 Quốc hội Khóa XI kỳ họp thứ 10 đã chính thức thông qua Luật hiến lấy ghép mô bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác. Ngày 12/12/2006 Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố luật số 20/2006/L-CTN theo đó Luật hiến lấy ghép mô bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2007.

Sau khi tìm hiểu nội dung các văn bản luật có liên quan với tư cách cá nhân xuất phát từ tấm lòng muốn chia sẻ và xoa dịu nỗi đau đớn của người bệnh tôi tự nguyện viết di chúc này quyết định cống hiến thân xác tôi cho khoa học và người bệnh.

Tôi là người có nguy cơ cao bị đột tử. Ngay sau khi tôi chết bất cứ cơ sở nghiên cứu nào cần đến thân xác tôi vì mục đích nghiên cứu khoa học chuyên sâu hoặc bất cứ người bệnh nào cần đến một phần thân thể của tôi để được ghép tạng đề nghị liên lạc ngay với con trai tôi theo địa chỉ nêu trên để tiến hành việc nhận xác hoặc nhận tạng. Tôi yêu cầu thân nhân của tôi không cản trở công việc tốt đẹp nói trên. Tôi rất mong các cơ quan bảo vệ pháp luật kiểm soát chặt chẽ và không cho phép ai được sử dụng việc hiến xác hiến tạng của tôi vào mục đích lợi nhuận.

Rất mong các cơ quan đơn vị cá nhân có liên quan tạo điều kiện tối đa để công việc hiến xác hiến tạng của tôi ngay sau khi tôi qua đời được tiến hành thuận tiện nhanh chóng và đạt được hiệu quả mong muốn.

Hãy giúp cho tôi được toại nguyện.

Trần Như Luận

(đã ký ngày 31/8/2010 tại Quy Nhơn Việt Nam)

Từ khóa dành cho người truy cập mạng:

Nguồn cho tạng; nguồn hiến tạng;

nguồn cho thận; nguồn hiến thận; 

nguồn cho gan; người hiến gan;

nguồn cho giác mạc; người cho giác mạc;

nguồn hiến giác mạc; người hiến giác mạc;

nguồn cho tim; người hiến tim;

nguồn hiến xác; người hiến xác;

nguồn cho xác; người cho xác;

cần xác để nghiên cứu; nguồn cho xác để nghiên cứu;

ghép tim; ghép gan; ghép thận; ghép giác mạc.

More...

Trích giới thiệu Tiểu thuyết Thầy Gotama và 8000 đệ tử sắp xuất bản

By

Bạn tình

Toman đã xài hết hơn phân nửa số tiền vàng xin được của cha vào những việc vặt vãnh chẳng đâu ra đâu. Cậu hết lao vào các quầy bán thịt dê thịt nai thịt nhím để ăn uống thỏa thuê lại tò mò bước sang các quầy bán chim từ chim sống tới chim chết.

Chim chết là nơi người ta làm thịt chim từ chiền chiện chích chòe sẻ bồ câu đến sáo họa mi cút mía tất cả đều có thể bày bán dưới các dạng nướng xào ram hầm mùi thơm bốc lên tận đỉnh đầu.

Chim sống là nơi người ta chơi một trò chơi rất lạ.

More...

NGƯỜI KỂ CHUYỆN Ở THÀNH RAJAGAHA

By

TRÍCH GIỚI THIỆU TIẾU THUYẾT "THẦY GOTAMA VÀ 8.000 ĐỆ TỬ" SẮP XUẤT BẢN:

CHƯƠNG 31:

NGƯỜI KỂ CHUYỆN Ở THÀNH RAJAGAHA

Giới bình dân ở thành Rajagaha chả biết vua Ajatasatru là ai. Mà hơi đâu họ phải biết nhỉ? Họ lo cho cuộc sống hàng ngày còn chưa xong nữa là… Nhưng có một nhân vật luôn ám ảnh tâm trí họ. Nhân vật này hễ nghĩ tới là phải nín cười. Vì ông ta có tài chọc cười. Chỉ cần nhìn dáng dấp ông ta ở xa chừng mười bước là đã muốn nhe răng ra cười.

More...

TÂM SỰ THẦY THUỐC "THỜI @": MỘT BỨC THƯ VIẾT TỪ TRÁI TIM...

By

Tâm sự thầy thuốc thời @:

một bức thư viết từ trái tim

BS Trần Như Luận

Quy Nhơn những ngày cuối năm Kỷ Sửu 2009

Bạn Việt thân mến

Tôi rất vui và xúc động khi bạn có lời chào và hỏi thăm tôi về việc nên chọn ngành học như thế nào tại Mỹ nơi mà bạn sẽ gắn bó trong suốt bốn năm của bậc đại học nơi mà bạn và những người cùng trang lứa sẽ dốc tâm học tập với ước mơ sẽ có ngày vinh quang quay trở về cùng với mọi người chăm lo xây dựng quê hương ngày càng rạng rỡ.

More...