Cõi con người
(Trích từ Tiểu thuyết Thầy Gotama và 8.000 đệ tử sắp xuất bản)
Jalah là một hoàng tử khá sành sỏi về cách pha trà. Thứ trà mà chàng mang theo là loại trà hảo hạng mua từ nước Vrijis. Nếu mà trà ướp hoa sen khá nổi tiếng từ xứ Mollos thì không thể pha với nước sông mà phải sử dụng nước lấy từ thượng nguồn tại những con suối trên sườn núi Himalaya. Nếu mua trà lá phơi ba lượt nắng ban mai có ướp hoa sala đã nở rộ nửa tuần trăng từ nước Koliyes thì dùng nước sông, nước suối không được, vị trà sẽ đắng chát. Trà Koliyes phải pha với nước mưa lấy trực tiếp ngoài trời hoặc pha với nước giếng được lọc đi lọc lại tới bốn năm lượt thì trà mới thơm ngon. Chàng đang có trong tay cả ba thứ trà hảo hạng ấy nhưng vì đang ở bên dòng sông Niranjana nên chàng chọn trà Vrijis cho tiện. Mỗi buổi sáng tinh mơ, khi mặt trời chưa ló dạng, bơi chừng độ năm mươi sải tay ra tới gần giữa sông, lấy cho được thứ nước sông trong trẻo tinh khiết giữa dòng để đem về lọc hai lớp vải mỏng là đã có thể pha được một thứ trà ngon không chê vào đâu được.
Sở dĩ chàng hoàng tử Jalah sành trà đến vậy là vì khi vua xứ Yadavas kén chồng cho công chúa Tharhan, hoàng hậu một mực yêu cầu các vương tôn công tử phải thi thố kiến thức về trà. Khi Jalah chiến thắng trong cuộc tranh tài kỳ diệu ấy, nàng Tharhan, nay là vợ chàng đã vô cùng cảm kích và không ngần ngại tỏ lòng khâm phục chàng bằng một câu ngợi ca bất hủ: - Thiếp xin cúi đầu bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với vị phò mã tương lai! Trong cuộc đời này, nếu có một ngày trọng đại nhất đối với thiếp thì ngày đó chính là hôm nay, lúc mà thiếp được tận mắt chứng kiến tài năng, đức độ và sự thông minh khéo léo của chàng! Những lúc nhớ tới Tharhan, chàng Jalah không khỏi mường tượng đến giây phút huy hoàng đó. Không biết xuất phát từ xứ sở nào trên trái đất, nhưng trà đạo tượng trưng cho một nghệ thuật độc đáo về cách thức thưởng ngoạn các thức uống mang đậm tính nhân văn, đồng thời nó gắn liền với ý thức bình đẳng cho tất cả các giai tầng. Ngồi trước một bình trà ngon, không ai không muốn bày tỏ sự cởi mở của mình với bất cứ ai trong nhà, bất luận họ thuộc tầng lớp nào.
Hôm nay, không phải nhờ trà đạo, mà chính nhờ quan niệm bình đẳng được thầy Gotama giảng giải trong các buổi pháp thoại, đã cùng ngồi với nhau trong tăng xá, gần như người ta không còn có khoảng cách giữa các giai tầng khác nhau trong xã hội. Một cô nàng ăn mặc rất bình dân của tầng lớp sudras như Purna cũng có thể ngồi ngang hàng để trò chuyện cởi mở với những hoàng tử của tầng lớp kratria bảnh bao, quý tộc như thường. Tình cảm và sự quan tâm lẫn nhau thật sự xuất phát từ tình đồng đạo hoặc tình người, tình bác ái chúng sinh chứ không hề mang đặc thù quyền lợi của một giai tầng xã hội nào. Cho nên việc Jhalu và Jalah đang khoác áo tu sĩ có quan tâm giúp đỡ Purna cũng là chuyện rất bình thường.
Purna đã từng cảm nhận sâu sắc tình thương vô bờ bến từ đôi mắt hiền hậu của thầy Gotama, cho nên nàng chẳng lấy làm lạ khi tiếp xúc với các sư đang cùng tu bên bờ sông Niranjana. Jalah giỏi về trà nhưng chàng vô tâm đến độ không hề biết chỉ tại uống trà mà sinh ra mất ngủ. Chính vì vậy, ai lỡ uống thứ trà hảo hạng do chính tay chàng pha thì đành phải thức trắng đêm. Đầu tiên chỉ có ba người. Sau một tuần, hầu hết mọi tu sĩ trong cùng tăng xá với chàng đều thích nhâm nhi từng ngụm, say mê thưởng thức và không ngớt lời khen ngợi thứ trà độc đáo ấy. Hễ buổi chiều, sau giờ hành thiền, các sư tề tựu nơi chiếc bàn con, kẻ đứng người ngồi, ai cũng cầm trên tay một tách ấm nóng thì đến tối lại, chục người như một, ai cũng trăn trở suy tư vì mất ngủ. Jhalu vẫn không thôi bị ám ảnh bởi hình bóng thon thả, yêu kiều của Purna. Chàng hình dung ra tại tăng xá của chàng dường như bao giờ cũng cùng một lúc có tới hai cô nàng Purna như thế! Một cô nàng Purna bằng xương bằng thịt nói nói, cười cười, vô tư, đứng đắn, đang khoác chiếc áo sari do chính tay chàng may vội từ một tấm lụa mà mới hôm nào chàng tình cờ mang theo. Một cô nàng Purna khác cứ chập chờn hiện ra trong tâm trí chàng, lúc thì âu yếm ngước mắt lên nhìn chàng hồn nhiên, tươi sáng, lúc thì toàn thân mềm nhủn, mảnh mai như sắp ngả vào lòng chàng. Sâu đậm nhất là hình ảnh Purna trần truồng, không một mảnh vải che thân đang ẩn khuất đâu trong tận tiềm thức của chàng cứ thỉnh thoảng hiện ra chập chờn, ảo mộng.
Jhalu muốn xua đi hết, xua đi trọn vẹn mọi ám ảnh riêng tư chỉ một mình chàng biết, nhưng dường như chàng không cách sao làm chủ được mình.
Trong những ngày gần đây, điều phiền phức cho nhiều tu sĩ đang sinh hoạt tại làng Uruvela này là sự xuất hiện không ngớt của bầy kiến cánh. Đó là những con kiến màu vàng, to khỏe và có cánh rộng, dài. Chúng bay vèo vèo dọc theo hai bên bờ sông và có thể bu lên áo casino, chui vào tận nách, cắn rất đau. Chúng thích đậu trên những cành liễu đong đưa trước gió, những gốc liễu còn tươi đang ứa nhựa thơm lừng, những bụi trắc bách diệp xanh mướt và ngay cả trên đầu ngọn cỏ non. Có lúc chúng xuất hiện từng đàn, đông tới cả trăm con. Đối với Purna, vì ít khi ra ngoài nên nàng không ái ngại. Nàng chỉ mong cho sức khỏe mau hồi phục để rời khỏi chốn tu hành này, trả lại sự thanh thản cho các sư. Nếu rủi ro bị bầy kiến tấn công thì nàng cũng không sợ hãi gì vì nàng đã quá quen với chúng. Chỉ một cái huơ tay của Purna có lúc tiêu diệt cả chục con. Lỡ có bị kiến cắn cho sưng mặt, nàng chỉ cần vò một cọng cỏ mực còn tươi xát lên đó thì sau một đỗi là hết ngứa, hết sưng. Nhưng các thầy ai cũng sợ kiến. Lý do là vì họ phải giữ giới không được sát sinh. Nếu kiến bu cắn, họ chỉ được phép xua đuổi mà không được giết. Vào lúc chiều tối, ai vô phúc bị kiến tấn công thì rất nghiệt. Vì kiến cánh về chiều cứ lì lợm hẳn ra, có xua đuổi bao nhiêu cũng không thể được.
Đã bao lần chàng tu sĩ Jhalu đã tỏ ra sốt ruột muốn biết vì sao Purna lại liều mình nhảy xuống dòng nước xoáy để quyên sinh.
Thấy không thể trì hoãn lâu hơn, nên một buổi tối, Purna quyết định kể cho chàng nghe. Nàng nói: - Thầy biết không, con lớn lên trong một gia đình chỉ có hai cha con. Mặc dù có lúc cha nóng nảy, quát mắng, la rầy, nhưng cha vốn rất thương con. Khi cha mất, mẹ con lại quay về nhà cùng với một người chồng khác. Sự thật trớ trêu, ông cha dượng này lại vô cùng dâm đảng. Ông quyết dụ dỗ con. Ông làm nhục con khiến con không chịu nỗi mà phải bỏ nhà ra đi. Vì nghĩ mà buồn cho cuộc đời đen bạc, nghĩ mà thương cho mẹ, lại cô đơn, quạnh quẽ, không có chỗ nương nhờ nên con chỉ muốn chết quách đi cho xong! Jhalu chăm chú nghe mà lòng trào dâng một niềm cảm thông vô hạn. Chàng cứ nghĩ mà thương quá chừng quá đỗi cho phận nữ nhi gặp chi toàn cảnh đời oan trái. Riêng Purna, sau khi cố uốn lưỡi kể cho xong thì tự cảm thấy hổ thẹn với lòng mình. Nhưng lời đã thốt ra làm sao sửa ngay lại được. Nàng đã định nói thật, nhưng dường như nàng sợ khi Jhalu biết hết sự thật thì sẽ khinh rẻ nàng. Hóa ra nói thật đối với người đời cũng vô cùng khó khăn. Đột nhiên, ngay phút giây nàng vừa nói xong những lời giả dối để tự nâng phẩm giá của mình, thì một loạt ba con kiến cánh bay vèo lên, ngoan cố đậu và cắn ngay ở cái khóe miệng duyên dáng của nàng. Purna thuận tay đánh bép một cái. Cả ba con kiến độc địa lăn ra chết bẹp gí trong lòng bàn tay nhỏ nhắn xinh xinh. Chàng Jhalu khẽ cau mày. Ngay lúc ấy, chàng nghe Purna nũng nà, nũng nịu khóc ré lên: - Ôi! Thầy ơi! Con không ngờ lũ kiến hung dữ này lại cắn đau đến thế! Trái tim trẻ trung khẽ rung lên xao xuyến. Jhalu thấy Purna đúng là quá tội nghiệp, đáng yêu. Chàng đã định đưa vạt áo casino lên lau nước mắt cho nàng nhưng đột nhiên bóng dáng thanh cao, gần gũi của thầy Gotama hiện chợt lên sáng ngời ngời trong tâm trí. Nước mắt của kẻ nữ nhi có đáng để cho bậc xuất gia phải đoái hoài không nhỉ? Jhalu tự hỏi trong khi mắt vẫn không ngớt nhìn vào khóe miệng của Purna đang sưng tấy lên rất nhanh. Purna xấu hổ đưa bàn tay lên che miệng. Nàng nhờ chàng Jhalu tìm ngay chín ngọn lá cỏ mực nhai nhỏ rồi đắp lên chỗ sưng. Không dễ như nàng tưởng, phải đến một tuần sau khóe miệng của nàng mới thật sự lành lặn. Nàng thất kinh hồn vía, tự nhủ thầm từ nay không dám mở miệng nói điều gian dối nữa. Toàn bộ câu chuyện đầy kịch tính của Purna lọt cả vào tai Jalah vì chàng vẫn tò mò theo dõi từng bước chân và cuộc trò chuyện của hai người. Jalah cứ nghĩ mà thấy thương cho Purna quá! Tại sao trên đời có thể có một chuyện thương tâm đến như vậy? Giá mà chàng còn là một hoàng tử oai phong lẫm liệt của chốn triều đình, chàng sẽ không ngần ngại sai đám cận vệ tìm cho ra tông tích của tên cha dượng lăn loàng, bắt hắn phải quỳ mọp xuống xin lỗi dưới chân nàng và đem xử chém bêu đầu cho hả giận.
Nếu chàng đang ở vị trí của Jhalu nhất định chàng sẽ ôm Purna vào lòng để vỗ về an ủi nàng. Một cô bé hiền lành, nết na như thế làm sao lại không đáng yêu cho được! Jalah lại trở mình. Chàng nhớ những phút giây ái ân bên vợ đến mức muốn điên lên!
* * *
Purna thật ra đã hoàn toàn mạnh khỏe từ lâu rồi nhưng nàng im im không chịu nói ra. Có lẽ nàng bối rối vì không biết phải đi đâu. Cũng có thể nàng bịn rịn không muốn chia tay, rời xa một ai đó trong tăng chúng. Đối với nàng, tìm cho ra một nơi trú thân thật vô cùng khó khăn. Nhưng sự thật oái ăm. Bụng nàng ngày càng lớn rõ. Cái tin nàng có thai trong chỉ hai tuần đã lan tràn khắp đó đây! Các thầy tu đã xuất gia vốn không phải là người nhiều chuyện.
Họ dành hết thời gian cho việc thiền định nghiêm túc dưới bóng cây pipala như trước đây thầy Gotama đã làm. Họ tranh thủ gặp thầy Gotama và các đại đệ tử của thầy để say sưa đàm đạo về những chủ đề sâu xa, những chi tiết khó lĩnh hội trong giáo lý. Khi rảnh rỗi, hoặc lúc trời mưa gió không thể ra ngoài trời được, họ tẩn mẩn xem đi xem lại những câu kinh được ghi chép tỉ mỉ bằng chữ sanscrit trên các cuộn vải màu trắng mà họ đã cẩn trọng cất giữ trong những chiếc rương bằng gỗ mun.
Theo gợi ý của thầy Gotama, nhiều tu sĩ trong nhóm thờ thần lửa trước kia còn sáng tạo ra một loại chữ mới na ná như chữ sanscrit mà họ gọi là chữ pali cho dễ đọc, dễ hiểu. Việc có một người nữ ở lại trong tăng xá quả thật rất phiền hà. Trước đây thầy Kondanna dứt khoát đuổi nàng đi khi thấy nàng đã lại sức; nhưng nhiều sư ở chung tăng xá đó đã thương tình xin cho nàng tạm thời tá túc vì nàng không có nơi nương tựa. Người đầu tiên trố mắt nhìn cái bụng mang dạ chửa của nàng một cách đầy kinh ngạc là Jalah. Chàng trai tự hỏi: Quái! Chẳng lẽ anh Jhalu dám làm cái chuyện điên rồ ấy sao? Thấy hai người cứ nhỏ to tâm sự với nhau hoài, không biết có phải anh ấy đã xiêu lòng không nữa! Jhalu thì vẫn rất vô tâm vì tin chắc đó là cái thai do nàng bị cha dượng cưỡng dâm. Tuy nhiên chàng đâm ra buồn lòng, ít nói. Vẻ mặt đăm chiêu của chàng khiến cho ai nấy tuy không nói ra nhưng cứ ngỡ chàng có dính líu gì tới cái thai nghiệt ngã ấy. Chuyện đến tai thầy Kondanna. Lần này thì thầy không thể bao dung được nữa. Thật là mất mặt cho tất cả tăng chúng đang xuất gia tu hành nghiêm mật tại đây. Thầy ra lệnh ngay trong buổi chiều hôm nay, dứt khoát phải đưa cô ả ra khỏi tăng xá, ai tiếp tục chứa chấp coi như phạm quy, sẽ bị bêu tên trước toàn thể tăng chúng.
Jhalu đã đau lòng lại càng đau lòng hơn. Làm sao bây giờ? Suốt gần hai tháng qua chàng đã hết lòng cưu mang nàng, bao tâm sự vui buồn đều cùng nhau chia sẻ, giờ chẳng lẽ chính chàng phải xua đuổi Purna hay sao? Suốt buổi trưa hôm đó chàng không ngớt suy tư, bứt rứt. Chàng đến xin yết kiến thầy Gotama. Sau khi nghe rõ câu chuyện, thầy giãi bày: - Con hãy giữ tâm thanh tịnh. Đừng nên băn khoăn. Mọi sự đều do duyên mà hợp, hết duyên mà tàn. Hiện nay sức khỏe của cô bé đã tốt. Chúng ta không có lý gì để giữ cô bé ấy ở lại trong tăng xá. Đây là chốn tu hành, con biết chứ? - Dạ, con biết. Nhưng thưa thầy, nếu cô gái tiếp tục có ý định tự vẫn thì làm sao hở thầy? – Jhalu lo lắng hỏi. - Vậy đệ tử có thể nào đi theo cô ấy suốt đời để ngăn cô ấy đừng chết không? Hiện nay cô ấy ý thức rằng cô ấy đang có một sinh linh trong cơ thể. Cô ấy sẽ không sao đâu! - Thầy Gotama nói với một giọng trầm ấm và đầy âm lực như thể thầy đã biết hết cuộc đời trong tương lai của Purna. Chiều đến, khí trời se lạnh. Mưa bắt đầu rơi lất phất bên ngoài song cửa. Jhalu vẫn xót xa vô hạn vì Purna ra đi trong lúc thời tiết thế này thật đáng thương tâm. Chờ mãi đến sẫm tối mà mưa vẫn không dứt. Jhalu chuẩn bị hành trang cho nàng trong một túi vải gồm một ít lương khô, mấy tấm vải còn mới, khoảng bảy cân gạo và một chiếc áo bông. Mỗi khi nhìn ra thấy mưa bay còn nặng hạt, chàng gần như không cầm được nước mắt. Các sư có mặt đông đủ trong tăng xá. Ai cũng nhìn và nói những lời đầy tình nghĩa lúc chia tay nàng. Việc gì đến phải đến. Purna lặng lẽ cúi đầu chào hết mọi người. Nàng cố nín thinh, không khóc. Jhalu bước ra tận cửa nhìn theo. Đột nhiên chàng nghe Jalah vặn hỏi: - Anh không thu xếp tiễn Purna đi một đoạn à? Em thấy anh không xứng đáng là đấng nam nhi! Em trong hoàn cảnh anh thì em làm khác! Đưa tay lên vuốt mặt cho đỡ ướt, Jhalu nói: - Tu hành là việc hệ trọng. Anh không thể bỏ dở được. Purna tần ngần đứng lại. Jalah nói, giọng khá nặng nề: - Đã thương thì thương cho trót! Một thai phụ giờ đây ra đường thật là khốn đốn và nguy hiểm. Anh không biết điều đó sao? Lương tâm của anh đâu rồi? - Anh không thể làm khác được. Chắc Purna cũng hiểu cho anh – Jhalu bình tĩnh đáp.
Đột nhiên, Jalah quát lớn: - Anh là đồ hèn! Vậy mà lâu nay em cứ tưởng... Thôi, được. Những gì anh không làm được cho Purna thì em sẽ làm! Nói rồi, Jalah òa khóc.
Chàng vào nhanh bên trong, soạn vội hai tấm áo casino, một cái đai lưng do chính phụ hoàng trao tặng, một ôm trà, một bộ tách bằng sứ tráng men. Chàng cho hết vào một bao vải thô và mang vội lên vai. Không kịp chào các anh em cùng cha, khác mẹ trong tăng xá, chàng bước ra ngoài, cầm tay Purna kéo nàng đi. Sự việc diễn ra nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng của Jhalu. Chàng đứng thộn ra như trời trồng, đôi mắt mở lớn như muốn thu trọn không gian vào ký ức. Tim chàng đánh thình thịch. Chưa bao giờ trong đời chàng lại gặp một chuyện khó xử đến như vậy. Bên ngoài trời mưa lớn hơn. Gió phầng phật bật tung những tấm phên liếp che tạm nơi cửa sổ. Lòng chàng Jhalu làm sao yên ổn được! Chàng bước vào bên trong, ngồi xuống trên tấm phản, ôm đầu một hồi lâu.
Tu sĩ Siva Sivatti, anh ruột chàng từ tăng xá kế bên vội đội mưa chạy sang. Jhalu ngước mặt lên, nhìn thấy chiếc áo casino của anh mình ướt đẫm. Chàng nghe giọng anh Siva ân cần bảo: - Jhalu à. Mỗi người đều có cách chọn lựa hành động của mình. Nếu em đã suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định ở lại để lo việc tu hành, thì em đừng băn khoăn gì nữa. Jalah đi là chọn lựa của nó. Jalah có lòng trắc ẩn, có bản lĩnh đàn ông, nhưng tiếc là hơi nông nổi. Anh chỉ cầu mong chú ấy đừng quá bồng bột làm mất đi phẩm chất của bậc xuất gia. Đừng suy nghĩ gì nữa em! Jhalu lần tìm bàn tay lạnh ngắt của anh. Chàng ôm bờ hông của anh lại như muốn biểu lộ một cảm xúc mãnh liệt đang dâng trào. Và đêm ấy, mặc dù không ai pha trà để uống, chàng vẫn không sao ngủ được.
* * *
Ở ngoại ô thành Banaras xuất hiện hai người lạ mặt: Một tu sĩ áo vàng, còn rất trẻ nhưng vẻ mặt đường bệ, dáng đi mạnh mẽ. Bộ râu nâu đen lan rộng tới cằm làm cho ông ta dù có cười cũng không xóa đi được cái vẻ trang trọng, uy nghiêm. Người kia là một cô gái, tuy chừng mười tám, đôi mươi nhưng cái bụng lúp lúp làm người ta biết ngay cô ta đang có thai chừng năm, sáu tháng.
Người đi đường chủ yếu là giới bình dân. Trời nắng rát da, cho nên ngoài cái khăn chít đầu truyền thống, từ người già tới thanh thiếu niên, ai cũng đội thêm một cái mũ lá trùm tới mang tai cho dịu mắt. Có điều lạ: Nếu họ đi trái chiều thì thể nào cũng quẹo cổ sang nhìn cho rõ mặt hai người lạ. Nếu đi cùng chiều thì đằng nào cũng ngoái cổ lại, liếc xéo cho được một cái. Ai cũng tò mò, tọc mạch, muốn biết xem họ là người từ đâu đến, tại sao một tu sĩ lại có thể đi bên một thai phụ được. Cứ mỗi khi hai người dừng lại sắm thêm một món đồ được bày bán bên vệ đường, khi thì một cái lược con, một tấm khăn hồng mỏng dính, một cái túi da, khi thì một con dao nhỏ để cắt tỉa râu, một chiếc vòng đeo tay bằng mã não, người ta đứng tụ lại thành đám đông để trố mắt nhìn. Suốt hằng chục dặm, cả hai đều đã thừa kiên nhẫn để chịu đựng những cái nhìn xoi mói, khinh khi. Nhưng vậy vẫn chưa đủ. Giờ đây, càng lúc càng đi gần hơn về phía thành Banaras, thỉnh thoảng gặp năm, bảy người thuộc giới ksatria mình đeo đồ trang sức cầu kỳ, cả hai mới thật sự thấy chột dạ vì những cái nhìn khinh khỉnh, vừa tỏ ra hiếu kỳ quá đáng, vừa tỏ vẻ coi thường. Cô gái không chịu nổi. Trong lòng cô dấy lên những câu chửi thề cho bõ tức: Tiên sư cha tụi bây! Tao có phải là gái đứng đường đâu mà tụi bây dòm ngó tao quá trời quá đất vậy! Chàng tu sĩ không tự trấn an được nữa. Một tiếng nói từ tiềm thức bật lên: Ta là bậc chính nhân quân tử. Ta có làm gì các ngươi mà các ngươi lại hành hạ ta bằng ánh mắt khinh nhờn đến thế kia? Cô gái đã đuối sức vì đường xa, lại mệt vì cái thai nặng nhọc không cất bước đi nhanh được, nay càng chán ngán thêm vì những cái nhìn chăm chăm xoáy sâu vào cân não. Cũng may cho nàng là cả hai đang đi tới một quán trọ dọc bên đường. Quán trọ khá bề thế.
Dưới bóng cây đại thụ to đến chục người ôm không xuể, giữa tiếng lá cây xào xạc, tiếng chim chóc ríu rít chuyền cành, có thể nhìn ngắm không chán mắt một cái cổng to rộng trưng lên một dãy chữ brami rồng bay phượng múa mạ đồng.
Chàng tu sĩ khẽ nói để cô gái biết đây là quán trọ Datavyam, tiếng brami nghĩa là cúng hiến. Chủ nhân của nó có lẽ là một người quý tộc đến từ nước Sakya hoặc nước Vrijis thờ đa thần. Khi bước vào bên trong, cả hai cũng không thoát được những tia nhìn xoáy vào tâm não của những cô gái còn rất trẻ và bà chủ quán trọ có đôi mắt đen to. Khuất đằng sau cái vẻ ân cần, hiếu khách là một sự tò mò, tọc mạch không kém gì những kẻ qua đường. Chàng tu sĩ quyết định đặt một phòng ở tầng trệt cho cô gái và một phòng ở tầng trên. Chàng hỏi: - Ở đây, nơi cao nhất là tầng mấy? - Thưa tu sĩ, tầng ba ạ. Nhưng... - bà chủ quán trọ hỏi - hai người cùng đi với nhau sao lại không đặt hai phòng sát bên nhau cho tiện? - Đó là sự chọn lựa của tôi. Xin cảm ơn bà – Chàng tu sĩ ráng ôn tồn nói. Từ trong sâu thẳm, chàng muốn bật lên một câu rằng Bà có liên quan gì với chúng tôi mà phải hỏi, nhưng câu nói bực bội ấy đã không bật thành lời. Cô gái được mời vào phòng. Chiếc giường gỗ bóng nhoáng trải tấm đệm màu vàng làm căn phòng trở nên sang trọng hẳn. Mùi nước hoa tỏa ra thơm ngát. Cô gái ráng hít thở hai, ba hơi, cảm nhận cho hết sự thoải mái sau một chuỗi ngày vất vả, mệt mỏi, gió bụi trên đường. Tấm lưng của nàng nằm doãi xuống giường tạo ra một cảm giác êm ái không thể tưởng. Rồi nàng ngủ thiếp đi. Lên tới tầng tư, chàng tu sĩ quăng túi vải xuống chiếc giường bên cạnh, đoạn nằm dài trên chiếc giường trải nhung xanh. Sau vài cái hít thở dễ chịu, chàng ngồi dậy kiếm nước uống một hơi cho đã khát, rồi lăn ra giường, ngáy một hơi thẳng cẳng. Cuộc sống của hai vị khách vẫn êm đềm trôi qua. Chàng tu sĩ đầu trọc thế mà nhiều tiền vàng ra phết. Cứ sau mỗi buổi sáng, chàng trả ngay ba đồng tiền vàng và thưởng thêm cho người dọn phòng một ít.
Hằng đêm, có lúc tận khuya, lén nhìn vào căn phòng cứ thấy vị tu sĩ ngồi xếp bằng tròn, hai lòng bàn chân ngữa lên trời, hai bàn tay hờ hững chồng lên nhau để nhẹ nhàng trong lòng, đôi mắt lim dim như đang trầm tư mặc tưởng. Cô gái vừa mới được tuyển đến khá xinh xắn trong chiếc áo sari đen có đường viền kim tuyến. Khi đến dọn phòng, cô phải đợi tới khi mặt trời lên quá vòm cây mới dám cất tiếng hỏi: - Thưa thầy. Xin thầy cho biết sáng nay thầy dùng thức ăn như thế nào để con dọn ạ? - Không cần đâu. Lần sau con cũng không cần hỏi thế. Ta sẽ vệ sinh thân thể. Sau đó hành thiền cho đến xế trưa. Ta sẽ đi một vòng khất thực, ăn đúng ngọ dọc đường. Mãi đến chiều ta mới quay về. Con đừng bận tâm. Nói rồi, vị sư khẽ mỉm cười nhưng cô hầu phòng không nhận ra. Chòm râu dài và rộng màu nâu đen của tu sĩ đã che khuất mất nụ cười. Cô gái chỉ lo một ít nước đun sôi để khách tự pha trà, rồi lẵng lặng xuống cầu thang. Mãi ba ngày sau cô hầu phòng mới nhận ra vị tu sĩ có mối liên quan với cô gái bụng bầu trọ ở căn phòng đặc biệt nằm dưới chân cầu thang, bên phải. Đầu tiên cô gặp hai người trò chuyện thân mật với nhau dưới bóng cây đại thụ khi vị tu sĩ ôm bình bát đi ra.
Cô tự hỏi: “Sao kỳ vậy cà? Một ông sư, một bà có chửa? Sao họ thân tình đến thế cà?”. Lần thứ hai cô thấy vị sư đưa cho cô gái bụng bầu một túi vải đựng toàn tiền vàng để thanh toán tiền phòng.
Những đồng tiền óng ánh đằng sau tấm vải lụa làm cho cô hầu phòng quá đỗi ngạc nhiên: “Ủa? Sư sãi gì mà nhiều vàng bạc châu báu dữ quá vậy cà?”. Cô ấy có biết đâu vào những đêm khuya thanh vắng, vị tu sĩ trẻ chỉ cầu mong cho cô gái bụng mang dạ chửa sớm khai hoa nở nhụy mẹ tròn con vuông để chàng mau mau trở về làng Uruvela tiếp tục việc tu hành. Thành Banaras lại trải qua một mùa đông rét mướt. Mưa xối xả dội xuống ngập hết tất cả các lối đi. Mưa ồ ạt tràn xuống từ mái hiên tạo ra một bức màn trắng xóa kéo lê lết xuống ướt ngập cả sân vườn. Cái lạnh ban đầu chỉ thoảng qua hiu hiu trong gió.
Càng về chiều, hơi lạnh càng buốt giá như băng, xoáy tít thật sâu vào da thịt. Những cô gái hầu phòng bâng khuâng ngồi nhìn mưa rơi mà lòng héo hắt. Bà chủ quán trọ thở vắn than dài vì nhà trọ trời mưa thưa khách. Chợt bà nghe một tiếng rên rất khẽ. Lắng nghe cho kỹ, bà nhận ra tiếng rên xuất phát từ một căn phòng tầng trệt. Sau khi tìm hiểu, bà ra lệnh đám gái hầu phòng báo ngay cho vị tu sĩ biết dường như cô gái mang thai đang lên cơn đau quặn bụng. Vị sư trẻ bối rối chạy xuống phòng tầng trệt.
Thấy cô gái toát mồ hôi trong cơn đau kịch liệt, chàng đưa mấy đồng tiền vàng ra nhờ cô hầu phòng đi mời ngay một bà mụ vườn tới thăm nom, chăm sóc. Cực nhọc lắm, mãi tới trưa người ta mới mời được một bà lão chân thấp chân cao bước vào phòng. Sờ qua nắn lại, bà cho biết thai vẫn tốt, cơn đau sẽ qua dần vì mãi ba tháng nữa mới sinh. Nhìn vẻ mặt đau đớn đáng thương của người con gái còn quá trẻ, vị sư bỗng thấy tim mình quặn thắt từng hồi. Đến khuya, khi bà mụ đã ra về, nhà sư vỗ vai cô gái nói: - Bây giờ ta lên phòng. Nếu có gì lạ trong người cô hãy báo ngay để ta biết nhé.
Nói xong, nhà sư bước vội ra, cẩn thận khép kín cửa để hơi lạnh khỏi lọt vào bên trong. Cô gái nằm nghiêng mặt vào tường, nghĩ tủi thân, nước mắt tràn ra ướt cả chiếc gối phủ lụa vàng. Trời sinh ra đàn ông là để che chở, bảo bọc cho đàn bà những lúc gian nan, vất vả. Vậy mà khi trải qua những nỗi đau lớn lao, cô gái cứ phải một thân một mình chịu đựng, không có ai sẻ chia, an ủi, nghĩ thế sao không đau lòng cho được. Trời cao thật vô tình. Cứ càng khuya càng lạnh buốt. Sờ cả vào chiếc đệm, vào tấm chăn, vào đôi cánh tay trần, cứ thấy một nỗi lạnh lẽo bao quanh. Có ai hiểu được lòng cô gái bụng mang dạ chửa giữa đêm khuya thanh vắng chẳng có bóng dáng chồng? Ngày hôm sau cơn đau dịu hẳn. Nhưng tới khuya, lúc nhà sư đang an giấc sau giờ thiền định, bỗng nhiên cô hầu phòng gọi to: - Không xong rồi thầy ơi! Con nghe ở tầng trệt người ta đang inh ỏi lên vì cô gái trở bệnh! Chàng tu sĩ trẻ tuổi luýnh quýnh bươn mình chạy xuống. Từng bước chân lật đật vang lên trên cầu thang gạch về khuya tạo nên một âm vang kinh động lòng người.
Bước vào, chàng thấy cô gái vã mồ hôi đầm đìa, hai bàn tay co quắp, môi tái ngắt. Sau khi đã đắp kín tấm chăn, cô gái vẫn than trong người quá lạnh.
Giọng run run, cô gái nói: - Thầy ơi! Chắc con không sống nổi rồi! Con thấy người lạnh ngắt. Nhìn sắc mặt đau đớn khổ sở của cô gái, chàng tu sĩ xúc động run lên. Chàng nói: - Con cố gắng lên. Ta sẽ nhờ người đem thật nhiều chăn bông đến cho con. Rất nhanh nhẹn, nhà sư sai bảo cô hầu phòng kiếm thêm ba chiếc chăn bông dày cộm. Đắp vậy, mà cô gái vẫn cứ run lên từng chặp. Chiếc giường gỗ chao động từng hồi, tạo ra một chuỗi âm thanh buồn não nuột. Đêm đó, vị sư thức đến gần sáng. Khi nghe cô gái đã khe khẽ ngáy o o trong mấy tấm chăn bông, thầy mới yên tâm quay trở lại phòng thầy. Do sự bất tiện phải chạy lên chạy xuống nhiều lần, nhà sư quyết định chuyển phòng của sư xuống kế phòng cô gái cho tiện.
Một buổi sáng tinh mơ, ngồi tĩnh tâm ở hành lang, ngay trước phòng nhà trọ, vị sư thoáng thấy cô gái bước ra từ căn phòng, dáng đi đã có phần cứng cáp. Khéo chải tóc gọn gàng, đính thêm chiếc trâm cài gắn pha lê óng ánh, trông cô hôm nay tươi trẻ hẳn ra. Tôn trọng buổi tĩnh tọa của thầy, cô gái chỉ đứng say sưa nhìn, không hề nói. Cô nghĩ mà thương cho vị sư trẻ tuổi biết bao. Lẽ ra giờ này sư đã cùng các sư khác trong tăng xá thực hành buổi tụng niệm buổi sáng, thong thả để hồn mình lắng sâu trong câu kinh tiếng kệ. Rồi thầy sẽ ngồi êm đềm dưới cây pipala tham thiền nhập định. Sinh hoạt của các thầy tu bên dòng sông Niranjana mới thanh khiết, yên tịnh và đầm ấm biết bao. Nghĩ mà thương cho thầy, chỉ vì lo cho mình mà thầy phải khổ thân, chịu bao đắng cay, tủi nhục. Cô biết thầy đã có lúc sầu não vì ánh mắt nghi kỵ, nhỏ nhen của tất cả mọi người. Cô biết có những lúc thầy đã quá đau lòng xót thương cho hoàn cảnh tội nghiệp của cô. Cô gái nhìn xa ra nơi ngọn cỏ đìu hiu trước gió, bất giác cô để trào đôi dòng lệ trong veo nơi khóe mắt. Nhà sư cảm thấy dạo này hơi mập. Cũng phải thôi, vì sư chỉ cần đi một lượt là bao nhiêu thức ăn đã đầy ắp trong bình bát.
Dân thành Banaras không giống như nhiều nơi khác.
Đa số họ khá giả nhờ buôn bán và lao động cực lực. Đi dọc con đường chính, nhìn mông lung ra hai bên mới thấy hết sự sầm uất của một khu vực đang phát triển mạnh. Nơi các cửa hàng bán nữ trang, nào những chiếc vòng đeo tay làm bằng đá carnelian sáng bóng, những đồ trang sức đeo trên đầu cũng được làm bằng lapis lazuli xinh xắn không chê vào đâu được. Rồi nào là những chiếc dây chuyền gắn ngọc thạch anh, những sợi dây đeo cổ tay bằng mã não. Bước ra phía ngoại ô, người ta có thể thấy ngay hàng trăm khu đất trồng lúa mì, hàng trăm khu rừng mênh mông trồng bông vải, trồng chà là, trồng vừng, trồng đỗ. Sự giàu có của thành Banaras ít nơi nào sánh được. Phần đông thị dân là những người hiền lành, chân chất. Họ sùng bái các thầy tu theo đạo brahman, nhưng nếu gặp các tu sĩ theo các tôn giáo khác họ vẫn tỏ sự kính trọng như thường. Thoạt đầu, khi gặp nhà sư trọc đầu mặc áo casino vàng đi khất thực giữa các nẻo đường, họ hơi ngạc nhiên vì xưa nay ít thấy. Nhưng chỉ vài ngày sau, tất cả họ, không trừ một ai đều xem việc cúng dường đến tận tay thầy là một nếp sinh hoạt vô cùng đạo hạnh. Vừa thấy bóng dáng sư xuất hiện đầu ngõ, họ đã vội vội vàng vàng nhắc nhau bưng những quả chuối vừa chín tới, những ổ bánh mì còn nóng hổi, hay những vắt cơm vừa mới hạ lửa còn bốc mùi thơm lựng bước ra đường.
Thái độ trân trọng của việc cúng dường quả là một điều đáng cho nhiều nơi học hỏi: Đầu tiên thí chủ bước vội bằng đôi chân trần ra đường, người như thấp hẳn xuống, mắt cứ ngước nhìn lên vô cùng trang trọng. Với đôi mắt khép nép, cẩn trọng như không dám mở to sợ ảnh hưởng đến phút giây thiêng liêng, cao quý của đấng tu hành, họ chắp hai bàn tay lại, lạy chào.
Chờ nhận xong cái vái trả chầm chầm của nhà sư, họ tẩn mẩn đưa năm ngón tay sờ nhẹ lên chiếc nắp bình bát. Họ thận trọng mở ra. Áng chừng khoảng trống trong bình bát vừa đủ để chứa đựng món vật phẩm mà họ định cúng dường, họ nháy mắt cho gia nhân nhích lại gần, tự tay thí chủ khệ nệ ôm bằng hai bàn tay, đưa vật phẩm vào gọn gàng trong bình bát. Xong đâu đấy, họ nhẹ nhàng đậy nắp bình bát lại, mắt vẫn giữ vẻ trang trọng, kính cẩn nhìn thầy. Rồi họ khẽ cúi đầu, chắp tay vái lần thứ hai. Khi nhận xong cái vái trả của thầy, họ mới yên tâm nép người sang một bên, hai tay vẫn chắp trước ngực. Khi vị sư ung dung bước đi chừng năm bước thí chủ mới dám lùi vào bên trong. Vẻ mặt vẫn trang nghiêm, kính cẩn không dám đùa giỡn ít ra là trong suốt nửa canh giờ. Nhà sư cảm thấy tình cảm mà người dân nơi đây dành cho thầy thật đáng trân trọng biết bao.
Rồi vì mưa bắt đầu rơi, thầy bước vào phòng, bắt đầu pha một tí trà Vrijis để nhâm nhi. Trong khi lục soạn, thầy ngối ngắm lại chiếc dây đai bằng da thuộc có đính ngọc thạch anh sáng nhoáng. Đây quả là vật gia bảo vô cùng tôn quý. So với các loại trân châu khác thì đây đúng là một loại bảo ngọc không lẫn vào đâu được. Nó lấp lánh muôn màu. Nó như phản chiếu ánh mặt trời và nhốt giữ ánh mặt trời vào trong ấy ngay cả khi bên ngoài sắc trời đã ngầu ngầu đục. Đẹp nhất là lúc về đêm, khi ánh nến khẽ chiếu lên các viên ngọc, chúng phát ra một thứ ánh sáng nửa vàng nửa xanh như thể màu mắt kỳ diệu của một con mèo tam thể móng vàng được chọn mua từ xứ Yadavas nổi danh với nhiều loài súc vật quý hiếm. Vị sư dùng chiếc dây đai để đeo lưng thay cho sợi dây thừng lâu nay cứ hay tụt lên tụt xuống. Cúi nhìn những viên ngọc thạch anh lấp lánh phản chiếu màu vàng của chiếc áo casino, sư khẽ nở một nụ cười tươi.
Đêm hôm đó, sư được thưởng bằng một giấc ngủ thật ngon. Chiếc bụng phệ ung dung nằm ở giữa, đôi chân dang rộng rất thong dong, đôi tay xuôi về hai bên thoải mái và chiếc cổ phì phò theo tiếng ngáy.
Đến gần sáng, mưa mỗi lúc mỗi to. Tiếng mưa dội xối xả xuống chiếc máng xối rất ồn ã và tiếng nước chảy róc rách quanh ngôi nhà trọ làm sư chợt thức giấc. Mở mắt, sư phát hiện thêm được một cánh cửa khép hờ còn thông qua phòng bên cạnh, phòng của cô gái trẻ mang bầu. Sư rất ngạc nhiên. Quái! Mấy bà mấy cô làm ăn kiểu gì kỳ vậy? Lỡ ra hai khách trọ chẳng quen biết gì nhau thì đây có phải là bất tiện cho khách không nào? Đột nhiên sư nghe một tiếng rên rất khẽ. Lắng nghe kỹ, trong tiếng rên khẽ ấy có cả tiếng khóc ấm a ấm ức. Chỉnh lại chiếc đai lưng cho ngay ngắn, sư mở nhẹ cánh cửa để nhìn sang, thấy cô gái vẫn nằm trên giường chắc là đang ngủ. Nhưng tiếng khóc lại òa ra, lần này to hơn các lần trước. Sư thấy xót trong lòng. Sư bước sang, đứng thật sát vào giường. Khuất khuất ẩn ẩn dưới ánh nến lập lờ sư thấy cô nàng vẫn nằm dang rộng đôi tay, mặt ngước lên trần.
Chiếc cánh mũi của cô phập phình theo tiếng nấc nghẹn ngào. Những giọt lệ trong veo óng ánh rơi chầm chậm xuống khóe mắt, lan trong làn tóc rối, rồi biến mất vào chiếc gối màu vàng ánh. Đôi vồng ngực căng đầy phập phồng trong nhịp thở uất nghẹn. Tấm chăn phủ ngang ngực, để lộ một khoảng da thịt hững hờ và đôi bàn chân nhỏ nhắn, xinh xinh, có lẽ đang rất lạnh. Sư nuốt nhẹ một ít nước bọt, rồi nhích người rất khẽ, nhón tay kéo tấm chăn đắp nhẹ nhàng lên đôi chân trần ấy, đoạn ngần ngừ đôi phút trước khi định quay gót bước khỏi phòng. Chợt sư nghe tiếng khóc im bặt. Thay vào đó là tiếng nói trong trẻo, êm tai: - Bạch sư! Con buồn quá sư ơi! Rồi cô gái ưỡn mình ngồi dậy. Đôi mắt của sư không thể không nhìn vào khoảng hở phía trên ngực áo lúc cô gái đang trở người.
Sư nuốt nước bọt, nói: - Con ngủ không được sao? - Nhìn sư, con thấy buồn cười quá! – Cô gái không trả lời mà lại nhoẻn miệng cười. - Buồn cười thế nào? – Sư ngồi khe khẽ xuống giường, đầu hơi nghiêng vì ngạc nhiên. Cô gái nhìn chăm chăm vào khuôn mặt nhà sư, đoạn nói, giọng vô cùng trong trẻo: - Ai từng đời... cái đầu thì trọc lóc, mà bộ râu thì đậm đen không chịu cạo! Sư già chẳng già, trẻ chẳng trẻ! Thấy vẻ thân mật, hồn nhiên của cô gái, sư bật cười: - Chớ... con thấy ta già lắm sao? - Chẳng biết nữa. Nhưng rất buồn cười sư ơi! Sư cứ thử nhìn vào tấm gương kia đi thì rõ! Đúng là lâu nay mình đã quên tự nhìn vào gương. Sư khẽ khàng đứng dậy, tay sửa dây đai, mắt chăm chăm tự ngắm mặt mình. Bỗng sư phì cười: - Ồ! Một phát hiện hay đấy! Ta cạo bộ râu đi, chắc trẻ hơn nhỉ? - Hẳn nhiên rồi sư! Nói xong, cô gái lại lắc đầu nguầy nguậy, nụ cười xinh tươi vẫn nở trên môi. Nhà sư trẻ quay lại, bắt gặp đôi mắt cô gái rất đỗi linh hoạt, đáng yêu. Nó chợt như ánh sao hôm vừa lóe, cũng tựa như ánh trăng đang phảng phất mặt hồ.
Tâm tư nhà sư chìm trong ánh mắt. Sư bước lại, vuốt mái tóc rối bời của cô. Giọng sư lạt hẳn: - Con thấy cuộc đời buồn lắm sao? Hãy lo giữ sức khỏe đi! Đừng nghĩ quẩn! Nói vậy, nhưng bao tâm trí sư chẳng để vào lời. Sư đặt mông ngồi xuống bên cô gái. Trời vẫn đang rất lạnh.
Cặp đùi sư căng lên làm người sư nóng ran ran. Sư lại nuốt nước bọt, khẽ nhích lại rất gần, nghe như hơi thở ra nồng nàn của cô gái cứ phả hết vào người sư. Sư thấy đôi môi tươi của cô đang mấp máy. Đầu óc sư mụ mị đi. Đoạn cơ thể từ đai lưng trở xuống bỗng trở nên mạnh mẽ phi thường. Sư hít một hơi thật sâu.
Lại thêm một hơi nữa. Đôi môi và hàng râu của chàng tu sĩ trẻ chỉ còn cách đôi môi cô gái có nửa gang tay. Sư khẽ đưa lưỡi ra liếm quanh mép.
Cặp đùi săn chắc của sư áp vào người cô. Đôi bàn tay của sư leo sang đôi bờ vai nửa kín nửa hở của cô gái. Mắt sư không rời khoảng hở gợi tình trên chiếc áo sari màu bầng quâng. Bỗng cả hai nghe một chuỗi cười man rợ. Nổi lên giữa tiếng mưa rả rích là một chuỗi tiếng cười choán hết không gian. Sư thất kinh hồn vía nhìn ra các cửa sổ. Lô nhô lố nhố có đến bảy, tám cái đầu phụ nữ đang ngất nga ngất ngưỡng cười vang vang như vừa mới được thả ra từ một cái bể nhốt tiếng cười.
Sư chết điếng.